Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập

13
 
 
1. Nhà Xuất bản Thông tin và Truyền thông vừa xuất bản cuốn sách dày trang: “Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập” của PGS, TS Đàm Đức Vượng (Đức Vượng), Viện trưởng Viện Khoa học nghiên cứu Nhân tài Nhân lực. Cuốn sách ra đời vào đúng lúc Đảng đang tiến hành đại hội đảng bộ và đại hội đại biểu đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
 
PGS, TS Đức Vượng viết nhiều cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam như: Con đường theo Bác (Hoàng Quốc Việt kể, Đức Vượng ghi, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1990), Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 1993), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 1995), Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2006), Xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng – Thực trạng và giải pháp (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2008), Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2010),… cùng những cuốn sách về các Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào,…
 
Cuốn sách “Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập” là một công trình nghiên cứu nghiêm túc của PGS, TS Đức Vượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói toàn bộ cuộc đời hoạt động, thân thế, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Tác giả gói gọn trong cuốn sách này. Những trích dẫn đều ghi xuất xứ từ các văn bản gốc, chính thống, rõ nguồn.
 
Những điểm mới của cuốn sách là Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống về toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo, tổ chức và rèn luyện Đảng ta, sáng lập Nhà nước cách mạng Việt Nam, sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất, sáng lập các lực lượng vũ trang và lực lượng an ninh cách mạng Việt Nam.
 
2. Cuốn sách đã trình bày một cách có cơ sở khoa học về tên chữ, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sóng gió của Người. Theo tác giả, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tất cả khoảng 160 tên chữ, bí danh, bút danh, trong đó có tên chữ Nguyễn Tất Thành (1901), tên chữ Nguyễn Ái Quốc (1919), tên chữ Hồ Chí Minh (1942). Trong quá trình hoạt động cách mạng, để tránh sự rình mò của đối phương, Người phải liên tục đổi tên với những bí danh, bút danh khác nhau. Mỗi khi đến một địa phương mới, có bài viết mới, Người lại có tên mới, bút danh mới, làm cho mật thám địch không biết đâu mà lần, đến nỗi có mật thám Pháp phải kêu lên rằng, không biết Hồ Quang, Lý Thụy, Vương, Thầu Chín,… có phải là Nguyễn Ái Quốc không? Nhờ đó, Người đã nhiều phen “thoát hiểm”.
 
Tại Hội thảo khoa học kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 7 và 8-5-1980, PGS, TS Đức Vượng đã trình bày bản báo cáo khoa học nhan đề: “Hồ Chí Minh – Những tên của Người”. Trong báo cáo này, PGS, TS Đức Vượng đã sưu tầm được 90 tên chữ, bí danh, bút danh của Người. Nay nghiên cứu, sưu tầm được thêm 63 tên chữ, bí danh, bút danh của Người, tổng cộng là 153/160 tên chữ, bí danh, bút danh của Người để đưa vào cuốn sách này. Phải ghi nhận đây là một kỳ công của một nhà khoa học suốt đời gắn bó với việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, ông xem đây là sự nghiệp của cả cuộc đời. Việc nghiên cứu này cũng là để đính chính một số bài viết không đúng và giải nghĩa không đúng về tên chữ, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
3. Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ về những bước chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành từ cuối năm 1924, khi Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về tới Quảng Châu, Trung Quốc. Công việc của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu là chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam. Tại đây, Người đã sáng lập ra “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội) vào năm 1925 mà nòng cốt là “Cộng sản Đoàn”, cơ quan tuyên truyền của Hội là tuần báo “Thanh niên”, được xem đây là một tổ chức tiền thân của Đảng.
 
Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống về các tổ chức cộng sản ở Việt Nam trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nước ngoài, ngày 25-6-1927, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Chi bộ Đảng Trường Đại học Phương Đông, Mátxcơva, Liên Xô, thông báo có một nhóm cộng sản Việt Nam đang học tại trường này đã được thành lập, do Lequy (Trần Phú) làm Bí thư nhóm. Ở trong nước, vào tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập tại số nhà 5 D, phố Hàm Long, Hà Nội (vẫn thường gọi là Chi bộ 5 D Hàm Long).
 
Cũng ở trong nước, vào cuối năm 1929, đầu năm 1930, lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Đông Dương Cộng sản Đảng (có văn kiện của Đảng ghi là “Đảng Cộng sản Đông Dương”): Thành lập ngày 17-6-1929, tại số nhà 312, phố Khâm Thiên, Hà Nội. Hội nghị thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng thảo luận và thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ Đảng, lấy cờ đỏ búa liềm làm cờ của Đảng. Đảng tổ chức Công hội đỏ Bắc Kỳ, Nông hội, Hội Phụ nữ giải phóng,…, xuất bản báo “Búa Liềm” ở Trung ương, báo “Bôn sơ vích” ở Trung Kỳ, báo “Cờ Cộng sản” ở Nam Kỳ.
 
An Nam Cộng sản Đảng (có văn kiện của Đảng ghi là “Đảng Cộng sản An Nam”): Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ được thành lập, thì tại Nam Kỳ, một tổ chức cộng sản khác cũng ra đời. Đó là An Nam Cộng sản Đảng. Vào tháng 8-1929, tại Sài Gòn, Châu Văn Liêm cùng một số cốt cán của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhóm họp tại Sài Gòn, bàn việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản An Nam. Đến tháng 9-1929, một số cán bộ của Thanh niên đang hoạt động tại Trung Quốc và cán bộ vừa ở trong nước sang, trong đó có Châu Văn Liêm, cùng nhau lập Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng tại Trung Quốc. Chi bộ ra tờ báo “Đỏ”. Ngày 20-10-1929, Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng tại Trung Quốc gửi thư lên Quốc tế Cộng sản, trình bày một cách khá đầy đủ về tình cảnh của công nhân trong cả nước và các phong trào đấu tranh của họ với những nhận định quan trọng. Lúc này, tại Nam Kỳ, có tổ chức “Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng Cờ Đỏ”, thành lập ngày 10-11-1929, tại đồn điền Cờ Đỏ thuộc làng Thới Đông, quận Ô Môn (nay là huyện Cờ Đỏ), do Hà Huy Giáp làm Bí thư. Khi trở về Sài Gòn, Châu Văn Liêm và các đồng chí của ông đã nhất trí tổ chức Đại hội lập An Nam Cộng sản Đảng vào khoảng tháng 11-1929, tại Khánh Hội, Sài Gòn, trên cơ sở các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ. Đại hội thành lập An Nam Cộng sản Đảng bầu Ban Lâm thời chỉ đạo (Ban Chấp hành Trung ương lâm thời) gồm 5 người do Châu Văn Liêm làm Bí thư. Đảng có Điều lệ, xuất bản tạp chí “Bônsơvích” làm cơ quan lý luận của Đảng. Đảng tổ chức ra các công hội, nông hội, hội học sinh,… để tập hợp quần chúng.
 
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Thành lập ngày 1-1-1930, tại một địa điểm ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, Trung Kỳ. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gồm những phần tử tiên tiến của “Tân Việt Cách mệnh Đảng” (Đảng Tân Việt). Đảng đã hình thành được một số chi bộ ở Trung Kỳ.
 
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn vào nửa cuối năm 1929, đầu năm 1930, tại Việt Nam, có ba tổ chức cộng sản ra đời, tự vạch ra tuyên ngôn, điều lệ, đường lối,… nhận mình là một chính đảng có vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều này chứng tỏ xu thế thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở nên tất yếu và cấp thiết hơn bao giờ hết trong thời điểm bấy giờ.
 
4. Cuốn sách còn cho ta biết các giai đoạn thành lập và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra tại Hương Cảng (Hồng Công) từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản. Đây là Hội nghị hợp nhất giữa ba tổ chức cộng sản trong nước thành lập trước đó là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
 
Hội nghị thành lập Đảng thông qua các văn kiện quan trọng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, trong đó có “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, khẳng định cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa để đi tới xã hội cộng sản, sau này phát triển thành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là đường lối nhất quán của Đảng từ khi thành lập đến nay.
 
Hội nghị định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Hội nghị Trung ương 1 họp vào tháng 10-1930, tại Hương Cảng, đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951), Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Tại Đại hội IV (tháng 12-1976), quyết định đổi tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
 
5. Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ về 11 Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và các Hội nghị Trung ương, về sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân ta qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng.
 
Trải qua các thời kỳ hoạt động của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng những nhà lãnh đạo Đảng đã xây dựng được một hệ thống lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là lý luận về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; lý luận về xây dựng Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; lý luận về xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); lý luận về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; lý luận về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh. Tất cả các lý luận của Người đều gắn chặt với thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
 
Được tôi luyện trong chiến tranh và lớn mạnh trong thời bình, Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua 85 năm hoạt động và phát triển không ngừng. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Hiện thực lịch sử cho thấy, cội nguồn mọi thắng lợi trong suốt tiến trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ thành tựu nhận thức lý luận, từ năng lực vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn đất nước. Từ Đại hội I đến Đại hội XI, thực tế lịch sử 85 năm qua đã cho thấy với trí tuệ, bản lĩnh và nghị lực; bằng đường lối đúng đắn, sáng tạo, mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho dân tộc; bằng sự hy sinh quên mình, phấn đấu không biết mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức mạnh mẽ, đoàn kết và mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
 
Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới, Đảng cần tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ: xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng, lý luận; đổi mới công tác tổ chức và công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng.
 
Những công lao và cố gắng ấy đã không phụ lòng mong muốn cuối cùng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[1].
 
Đây là một cuốn sách hấp dẫn và bổ ích, được biên soạn chi tiết, công phu và đầy đủ, trình bày dưới dạng văn chính luận, phản ánh đúng thực chất về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, là một người từng trải và có nhiều kinh nghiệm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng, trong Lời nói đầu, Tác giả Đức Vượng viết: “Dù sao, đây là một cuốn sách của một cá nhân viết, chẳng ai dám nói là đã hoàn hảo. Vì vậy, có chỗ nào viết chưa thỏa đáng, mong được bạn đọc lượng thứ và trao đổi”.
 
Bài và ảnh: Quỳnh Anh
 
*****
Chú thích:
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 12, tr. 512.