22/11/2017
Trang chủ Nghiên cứu khoa học, Tiêu điểm NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CỦA NGƯỜI THƯ KÝ (PHẦN 4)

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CỦA NGƯỜI THƯ KÝ (PHẦN 4)

PGS.TS Đức Vượng

Những trào lưu lý luận lớn trên thế giới hiện nay (tiếp theo và hết)

Lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới (1). Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã đạt những thành quả mới. Lý luận về đổi mới ở Việt Nam bắt đầu từ nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20-9-1979. Nghị quyết này phân tích những khó khăn kinh tế của Việt Nam, đề ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn, xóa bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, làm cho sản xuất “bung ra”. Đến đây, kế hoạch hóa không còn được xem là hình thức duy nhất để phát triển kinh tế; khẳng định sự cần thiết phải kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị trường có kế hoạch và thị trường không có kế hoạch. Có thể nói, đây là bước đột phá thứ nhất của quá trình đổi mới tư duy kinh tế ở Việt Nam.

Tiếp đó, ngày 17-6-1985, Hội nghị Trung ương 8 khóa V của Đảng ra Nghị quyết về vấn đề giá, lương, tiền. Trong Nghị quyết này, Trung ương tiếp tục đặt vấn đề kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; chuyển hoạt động ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh. Điểm nổi bật trong Nghị quyết này là thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy đây là bước đột phá thứ hai của quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Việt Nam.

Bước đột phá thứ ba của quá trình đổi mới tư duy kinh tế ở Việt Nam, thể hiện trong văn bản Kết luận của Bộ Chính trị Khóa VI, họp từ ngày 25-8-1986 đến ngày 1-9-1986.

Sau khi thảo luận, Bộ Chính trị đưa ra ba quan điểm kinh tế trong tình hình mới:(1)/ Trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc. (2) Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. (3) Trong quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, nhưng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hóa – tiền tệ, dứt khoát xóa bỏ tập trung, quan liêu bao cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá.

Ngoài ba bước đột phá trên đây mà chúng tôi đã nghiên cứu được, trong các nghị quyết Đại hội Đảng và một số nghị quyết Hội nghị Trung ương của Đảng tiếp tục nêu những vấn đề mới có tính lý luận, thể hiện sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.

Đại hội VI của Đảng (1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ý nghĩa lịch sử về lý luận của Đại hội VI thể hiện ở sự phân tích đúng đắn những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế – xã hội từ nhiều năm trước, đề ra các định hướng lớn để tùng bước đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng khó khăn và lạc hậu về kinh tế, từng bước giải quyết vấn đề nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân.

Lý luận mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, qua nghiên cứu bước đầu, thấy thể hiện ở một số mặt sau đây:

Một là: Có một số quan điểm nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Khi Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành vào năm 1986, thì Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu chưa sụp đổ. Đến khi Đại hội VII của Đảng tiến hành vào năm 1991, thì Liên Xô sắp tan rã. Vì vậy, lúc này, lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn được trình bày theo nội dung và cách thức trước đó. Tuy nhiên, lúc này, Đảng cũng đã bắt đầu có sự nhìn nhận và rút ra những kinh nghiệm thành công và không thành công trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và một số nước khác. Định hướng nghiên cứu này vừa mang tính nguyên tắc, bảo đảm không chệch hướng mục tiêu xã hội chủ nghĩa, vừa mang tính đổi mới với tinh thần không để lặp lại những sai lầm cũ.

Thí dụ, trước đó, khi chỉ đạo cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, chúng ta chủ trương sớm xóa bỏ nền kinh tế nhiều thành phần, sớm có chế độ công hữu chiếm ưu thế tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân; phủ nhận về thực chất sản xuất hàng hóa; chậm xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Dần dần, quan điểm nhận thức này có thay đổi theo hướng đổi mới về chỉ đạo quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghia từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước; kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân; thực hiện đa dạng hình thức phân phối, lấy kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm cơ sở chủ yếu để phân phối; thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội.

Vấn đề chuyên chính vô sản cũng được hiểu theo nhận thức mới là chính quyền thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động và thực hiện sự liên minh mới giữa công nhân, nông dân, trí thức, nhân dân lao động làm chủ tập thể.

Cho đến nay, lý luận về con đường đi lên của cách mạng Việt Nam vẫn là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ phát triển tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, vẫn tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nhất là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, phát triển nhanh kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. “Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (2).

Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục khẳng định xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam “là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(3).

Về ý thức hệ, Việt Nam vẫn kiên trì xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội VII của Đảng và Cương lĩnh năm 1991 của Đảng, lần đầu tiên khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”(4); khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cụ thể nước ta, và trong thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”(5). Đại hội VII và Cương lĩnh năm 1991 của Đảng nêu khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội IX (năm 2001), xác định tư tưởng Hồ Chí Minh “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(6).

Hai là: Đảng đã xác định những nguyên tắc cơ bản của đổi mới ở Việt Nam.

Đây là vấn đề rất hệ trọng, vì nếu xác định đúng, sẽ làm cho đổi mới đi đúng hướng; nếu xác định không đúng, sẽ dẫn đến chệch hướng.

Hội nghị Trung ương 6 khóa VI của Đảng, ngày 23-9-1989, xác định 5 nguyên tắc của đổi mới. sau này, được bổ sung một nguyên tắc nữa thành 6 nguyên tắc: (1) Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mục tiêu ấy thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi, biện pháp thích hợp. (2) Đổi mới nhằm phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh của Việt Nam; không máy móc, giáo điều. (3) Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của cả hệ thống chính trị nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước. (4) Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, lắng nghe, tiếp nhận một cách nghiêm túc những ý kiến trung thực, phê bình những khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng và trong công tác xây dựng Đảng. (5) Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. (6) Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Ba là: Đảng đã định hình được con đường phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

Trước hết, để giải quyết vấn đề “có ăn, có mặc” trong hoàn cảnh đất nước “ăn không đủ no, mặc chưa đủ ấm”. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) nêu vấn đề phát triển “Ba chương trình kinh tế”: lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu. Ba chương trình này đã dẫn đến chuyển biến tốt: dân đã được “ăn no”. Năm 1988, đất nước còn phải nhập 45 vạn tấn gạo. Ba năm sau, lương thực đã đáp ứng được nhu cầu trong nước; có dự trữ ít nhiều; hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng và lưu thông tương đối thuận lợi; hàng xuất khẩu bắt đầu phát triển, kinh tế đối ngoại được mở ra.

Từ năm 1986, dần dần hình thành và phát triển chính sách kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phải đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế, xã hội, đồng thời, phải rất mạnh dạn đổi mới quản lý kinh tế. Cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là cơ chế thị trường có sự quản lý, điều hành của Nhà nước bằng pháp luật và các chính sách kinh tế.

Lý luận tổng quát về một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được Đại hội IX của Đảng (năm 2001) xác định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(7).

Trong nền kinh tế thị trường, cần nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những vấn đề lý luận quan trọng trong thời kỳ đổi mới. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội là dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, cải thiện bộ mặt xã hội; phát triển một nên kinh tế đã sở hữu, nhiều thành phần; kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân,…trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế; hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, tiến tới đủ sức cạnh tranh với kinh tế thế giới; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền cho phù hợp đặc điểm Việt Nam; kinh tế Việt Nam phải có mối liên hệ hội nhập với kinh tế thế giới, độc lập trong đa dạng, hội nhập theo nhiều chiều. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển, cùng hợp tác, cùng cạnh tranh lành mạnh, tạo thành những mắt xích quan trọng hợp thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đa dạng hóa và nâng cao tính chủ động của các chủ thể làm kinh tế.

Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường còn thể hiện ở các chính sách xã hội: tiến bộ và công bằng; phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.

Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa yêu nước trong thời kỳ mới; bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước. Xây dựng cộng đồng Việt Nam trở thành cộng đồng văn minh, văn hóa, đạo đức, tất cả đều sống trong tình cảm mến thương, chan hòa.

Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi kinh tế Việt Nam phải nâng lên tầm vóc kinh tế tri thức, phải tạo ra thế mạnh của đất nước, tiềm năng dồi dào, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đại hội IX xác định đường lối chiến lược kinh tế của Đảng là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế -xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh”(8). Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm. Dựa vào sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa “có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt”(21). Tư tưởng chiến lược là phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ môi trường. công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời tranh thủ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế trong nước đi liền với việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp giữa sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài.

Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, coi đây là một mũi hướng chiến lược của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thưc hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, tiến tới trở thành một xã hội giàu có, mọi người đều giàu lên và khỏe ra. Chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực, nguồn nhân lực, tạo việc làm cho nhân dân lao động, duy trì trật tự an ninh xã hội,  xây dựng con người mới với sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội.

Bốn là: Đảng đã phác thảo phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Một vài nét về “nhà nước pháp quyền”, xã hội công dân”, “xã hội dân sự”, học thuyết “tam quyền phân lập”:

Vào thế kỷ XVIII, một luật gia người Pháp tên là Môngtexkiơ lần đầu tiên nêu khái niệm “tam quyền phân lập”. Vào đầu thế kỷ XIX, các luật gia người Đức và người Áo lần đầu tiên nêu khái niệm “nhà nước pháp quyền”(9).

Ở các nước phương Tây, bên cạnh việc nói đến “nhà nước pháp quyền”, còn nói đến “xã hội công dân”, “xã hội dân sự”. Xã hội công dân được đặt ra cùng với việc quản lý nhà nước, nhằm lấp khoảng trống giữa công dân và chính phủ. Xã hội công dân bao gồm các nhóm người (được tổ chức hoặc không được tổ chức) liên kết với nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, hoạt động với mục đích mang lại lợi ích chung cho các thành viên của mình. Nhà triết học người Đức là G.V.Ph.Hêghen (1770-1831) là người đầu tiên nêu khái niệm “công dân” từ thế kỷ XVIII. G.V.Ph.Hêghen đã xem gia đình, xã hội công dân với nhà nước là hình thức biểu hiện của ý niệm để cấu thành nhà nước. C.Mác coi  “gia đình và xã hội công dân là những tiền đề của Nhà nước, chính chúng mới là những yếu tố thật sự tích cực”(10). Trong cuốn sách “Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) (Bản dịch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), nhận định: “Về mặt lịch sử, xã hội công dân phát triển chung quanh các hiệp hội truyền thống và các nhóm tôn giáo, và được thúc đẩy bởi những phong trào phản đối mang tính tôn giáo, xã hội và chính trị ở các nước khác nhau. Ngày nay, xã hội công dân, bao gồm các tổ chức khác nhau như các tổ chức công đoàn, các nhóm, các câu lạc bộ ngành nghề, các nhóm dân sự, hợp tác xã, các tổ chức cộng đồng, các ủy ban tự quản của công dân, các nhóm về quyền con người, các nhóm dân tộc thiểu số, các nhóm dân cư bản xứ, các hiệp hội có dựa vào tôn giáo, giới, sắc tộc, văn hóa, ngôn ngữ. Các tổ chức xã hội của công dân có thể là các tổ chức trung gian hoặc do công dân tự tổ chức được gắn kết bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị truyền thống, và có thể được huy động để tiến hành nhiều loại hoạt dộng khác nhau. Một xã hội công dân tích cực và lành mạnh là cơ sở của bốn cột trụ trong chế độ quản lý nhà nước: tính minh bạch, trách nhiệm, sự tham gia, và pháp quyền” (tr.612).

Khi nêu khái niệm “xã hội công dân”, cũng cần phải bàn đến khái niệm “xã hội dân sự”. Khi nói đến xã hội công dân là nói đến vai trò của người dân trong một nước có chủ quyền. Khi nói đến xã hội dân sự là nói đến trách nhiệm, phận sự của người dân trong một nước có chủ quyền. Trong lịch sử, thuật ngữ “nhà nước dân sự” xuất hiện lần đầu từ thế kỷ XVIII. Có lẽ từ thuật ngữ “nhà nước dân sự”, mà sau đó, người ta chuyển sang dùng thuật ngữ “xã hội dân sự”. Thật ra, dáng dấp của một xã hội dân sự được hình thành rất sớm từ Nhà nước La Mã cổ đại. Nó thể hiện ở chỗ Nhà nước La Mã đã tổ chức được các cuộc đại hội toàn dân La Mã để cùng nhau bàn việc nước. Trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”(11) của G.G Rútxô, xuất bản lần đầu vào năm 1762, viết: “Suy rộng ra, ta thấy nhà nước dân sự chỉ có thể tồn tại chừng nào mà lao động của con người sản xuất có thể làm ra hơn mức độ họ cần dùng” (12). Nhận định này mang tính định hướng để xây dựng một nhà nước dân sự. Ngày nay, người ta dùng khái niệm “xã hội công dân”, “xã hội dân sự” với nội dung mới. Nó phụ thuộc vào bản chất của chế độ đó. Nếu thực hiện được xã hội dân sự sẽ giải quyết được vấn đề hiệp thương dân chủ giữa nhà nước và xã hội, giải quyết được mối quan hệ nhiều chiều trong xã hội, trong đó có mối quan hệ giữa công dân với cơ quan nhà nước và mối quan hệ giữa con người với con người.

Vấn đề “xã hội công dân”, “xã hội dân sự” ở Việt Nam mới được các nhà khoa học nghiên cứu, xới xáo lên. Theo tôi, vấn đề này, cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa.

Cùng với “xã hội công dân”, “xã hội dân sự”, vào thế kỷ XVIII, một luật gia người Pháp tên là Môngtexkiơ lần đầu tiên đưa ra học thuyết “tam quyền phân lập”. Học thuyết “tam quyền phân lập” đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước ở phương Tây. Nó được xem như một thể chế, một nguyên tắc hoạt động của các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nguyên tắc “tam quyền phân lập” bảo đảm cho các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoạt động riêng biệt và không nhất thiết phải thống nhát với nhau. Họ cho rằng, sự mâu thuẫn trong công vụ pháp lý, nhiều khi lại bảo đảm lẽ phải và công lý, và phần nào khắc phục được các vụ án oan sai. Vì vậy, quan điểm nhận thức không đúng nếu phủ định sạch trơn học thuyết “tam quyền phân lập”, nhưng nếu áp dụng học thuyết này vào một nhà nước xã hội chủ nghĩa nào đó, thì phải tính đến thể chế chính trị, hoàn cảnh, đặc điểm của nhà nước xã hội chủ nghĩa đó. Khi đã có các quyền khác bảo đảm, thì vấn đề “tam quyền phân lập” có hay không có ở một nhà nước xã hội chủ nghĩa nào đó, cũng phải có sự cân nhắc.

Thuật ngữ “pháp quyền” được áp dụng tại nhiều nước theo một tiêu chí như một chế độ nhà nước, và nó có thể so sánh được với quá trình phát triển khái niệm “nhân quyền”.

Khi nêu khái niệm “nhà nước pháp quyền”, các luật gia, học giả không thấy đề cập đến tính chính trị của nhà nước pháp quyền, không nói nhà nước pháp quyền là của riêng một thể chế nhà nước nào, cho nên khi Việt Nam đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng không thể nói đó là sự gán ghép khiên cưỡng, không thể nói là sự cộng lại giữa “nhà nước pháp quyền” với “xã hội chủ nghĩa”. Hiện nay, tại một số nước cũng áp dụng xây dựng nhà nước pháp quyền. Có nước gọi là “nhà nước pháp quyền và xã hội công dân”; có nước gọi là “nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự”; có nước gọi là “nhà nước pháp quyền và thể chế tam quyền phân lập”. Khi nói đến “nhà nước” là nói đến một tổ chức chính trị – xã hội. Khi nói đến “pháp quyền” là nói đến hệ thống luật pháp tiêu biểu cho quyền lực của một nhà nước, cho bản chất của chế độ đó. Có người cho rằng, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước, mà là một hình thức phân công và tổ chức quyền lực nhà nước. Thực ra, lý luận về nhà nước pháp quyền còn phải tiếp tục nghiên cứu, vì hiện nay, mỗi nước đều dựa vào đặc điểm của nước mình mà đặt ra những tiêu chí khác nhau để xây dựng nhà nước pháp quyền của nước mình cho phù hợp. Một số nhà khoa học trên thế giới khi nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, cho rằng, không cần phải theo mô hình của nhà nước pháp quyền của châu Âu, châu Mỹ hay châu Á, mà nên theo mô hình nhà nước pháp quyền của chính nước mình. Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm quyền cơ bản của con người, quyền công dân trong một xã hội dân sự hoặc một xã hội công dân.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(13) xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1-1994). Hội nghị Trung ương 8 khóa VII của Đảng (tháng 1-1995) tiếp tuc đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”(14). Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trong giáo dục, nâng cao đạo đức”(15). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa VIII (tháng 6-1997) nhận định: “Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”(16). Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đăt vấn đề tiếp tục “”xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”(17). Hội nghị Trung ương 9, khóa IX của Đảng (tháng 1-2004), khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(18). Đại hội X của Đảng (năm 2006) đặt vấn đề hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một lần nữa khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(19). Theo phương hướng đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp,  hành pháp, tư pháp; đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Điểm xuất phát để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xây dựng một xã hội, mà trong đó, được xử lý bằng mối quan hệ giữa dân chủ xã hội và luật pháp của Nhà nước, bằng thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị.

Cơ sở xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là khối đại đoàn kết dân tộc.

Về đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bước đầu đã được xác định: (1) Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. (2) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. (3) Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. (4) Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời, tăng cường thi hành pháp luật. (5). Nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. (6) Nhà nước nằm trong hoạt động của hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. (7) Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là một thành viên.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; có cơ chế vận hành để thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật; xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền; không ngừng đổi mới, cải tiến hoạt dộng của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp; nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp.

Hiện nay, ở Việt Nam không áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập”, mà áp dụng nguyên lý “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Nguyên lý này xuất hiện lần đầu trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh nêu rõ việc “tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương”(20). Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”(21).

Tổ chức và phân công quyền lực nhà nước là vấn đề rất cơ bản, mấu chốt trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Tổ chức và phân công quyền lực nhà nước đúng, phù hợp sẽ là nhân tố bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, giữ vững được bản chất của mình. Với Việt Nam, tổ chức và phân công quyền lực nhà nước phụ thuộc  vào bản chất của Nhà nước Việt Nam, phụ thuộc vào truyền thống lịch sử dân tộc Việt Nam, vào đặc trưng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (năm 2001, sửa đổi, bổ sung một số điều ghi rõ tổ chức và phân công quyền lực dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất , có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Đảng Cộng sản Việt Nam là lục lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Nghiên cứu các bản hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều có những điều khoản quy định sự phân công quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 1946 ghi rõ Việt Nam là nước dân chủ, cộng hòa. “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(22).

Với sự phân công quyền lực Nhà nước theo các Hiến pháp của Việt Nam, nhất là Hiến pháp năm 1992, thì Quốc hội với tính chất là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, được xác định là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Chính phủ với tính chất là cơ quan hành pháp, hành chính, được xác định là “cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”(23). Chính phủ không còn thuần túy là một chế định Hội đồng Bộ trưởng, lãnh đạo tập thể, mà đã trở thành một chế định được tổ chức và hoạt động trên cơ sở kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo (Chính phủ) với chế độ trách nhiệm cá nhân (Thủ tướng, Bộ trưởng). Xu hướng trách nhiệm cá nhân gần đây được nhấn mạnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đã được xác định rõ thêm.

Các cơ quan tư pháp bao gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và hệ thống viện kiểm sát; Tòa án nhân dân tối cao và hệ thống các tòa án; cơ quan điều tra. Trong những năm đổi mới đã có những cải cách nhất định, như tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, cơ quan xét xử , trước đây áp dụng hình thức bầu thẩm phán, nay được thay thế bằng chế độ bổ nhiệm thẩm phán; trong hệ thống tòa án đã thành lập thêm các tòa chuyên trách như Tòa Hành chính, Tòa Lao động, Tòa Kinh tế. Các nhà khoa học đang nghiên cứu đề xuất lập Tòa án Hiến pháp ở Việt Nam, nhưng sự đề xuất này chưa chín. Đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp nhằm xây dựng một nền tư pháp vững mạnh, minh bạch, công lý, công bằng, dân chủ, phục vụ nhân dân. Đổi mới hoạt động tư pháp lấy tòa án làm vị trí trung tâm và xét xử làm hoạt động trọng tâm. Đổi mới hoạt động tư pháp bằng việc Viện Kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm tra, giám sát các hoạt động tư pháp và được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án. Đổi mới hoạt động tư pháp là đổi mới phương thúc hoạt động của các cơ quan điều tra.

Nói tóm lại, về hiến định, tổ chức và phân công quyền lưc nhà nước ở Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phân nhiệm trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Có thể coi đây là bước tiến mới về nhận thức lý luận pháp lý của Việt Nam, tuy vẫn còn phải nghiên cứu, vì chưa sâu

Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối với Việt Nam, vấn đề này còn rất mới, nên nghị quyết của Đảng cũng mới chỉ phác thảo ra được những nét chung, cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay đối với chúng ta là phải xây dựng hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Năm là: Đảng đã xây dựng một hệ thống lý luận về Đảng và xây dựng Đảng trong trong thời kỳ mới.

Trong những năm đổi mới, Đảng đã xác định mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với các chính sách xã hội và xây dựng Đảng, “Lấy phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”(24).

Về bản chất (tính chất) của Đảng đã được Đại hội X (năm 2006) xác định lại theo tinh thần Đại hội II (năm 1951):

“Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(25).

Các Đại hội I, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, ghi Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Các Đại hội II, X, ghi Đảng là của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Ghi như các Đại hội II, X là phản ánh đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Còn ghi như các Đại hội I, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX là phản ánh tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về xây dựng Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, vấn đề này hoàn toàn không có gì mâu thuẫn giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với lý luận Mác –Lênin (26).

Về xây dựng Đảng, những nguyên tắc về xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam , qua nghiên cứu, có nhà khoa học đưa ra 8 nguyên tắc; có người đề nghị thêm nguyên tắc xây dựng Đảng về đạo đức, nhân cách, tác phong; có người đề nghị đảo ngược vế “tập trung dân chủ” thành “dân chủ tập trung”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa VII cảu Đảng (tháng 6-1992) ghi “đổi mới và chỉnh đốn Đảng”. Nhưng đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), Khóa VIII của Đảng (tháng 2-1999), không thấy ghi “đổi mới”, chỉ thấy ghi “xây dựng, chỉnh đốn Đảng”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), Khóa VIII nêu 10 nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng: tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí, hành động; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận nhằm làm rõ hơn những vấn đề bức xúc đang đặt ra, làm rõ mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đổi mới công tác giáo dục về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có hiệu quả; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong Đảng; củng cố tổ chức, tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng; sắp xếp lại tổ chức, bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; toàn Đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cải tiến viêc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng (27).

Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” của ĐX (Hồ Chí Minh) viết năm 1953, Tác giả nêu nền tảng tổ chức của Đảng tóm tắt gồm 6 điều: (1) Đảng là đội tiên tiến của nhân dân lao động. (2) Toàn thể đảng viên phải giữ kỷ luật của Đảng. (3). Đảng phải lãnh đạo tất cả các tổ chức khác của nhân dân lao động. (4) Đảng phải liên lạc thật chặt chẽ với quần chúng. (5). Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. (6). Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý ba vấn đề trọng yếu của công tác xây dựng Đảng: “Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng”(28).

Trên đây là những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học. Lý luận mới về chủ nghĩa xã hội khoa học ở Việt Nam đang là vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ. Muốn nghiên cứu có kết quả, xin hãy nhìn vào thực tiễn hiện nay của thế giới và xã hội, từ đó mà dự đoán xu thế phát triển của nó. Hồ Chí Minh nói: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận, rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính” (29). Lý luận gắn với thực tiễn là một trong những vấn đề cơ bản của khoa học nhận thức.

Những người thư ký phải nắm vững lý luận. không nắm vững lý luận thì không thể gọi là “thư ký khoa học” với đúng nghĩa của nó.

(Bài in trong sách “Làm thư ký công việc nghiêm túc và đáng quý” của Việt Phương và Đức Vượng, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2007)

————————————————-
(1) Cuốn sách này xuất bản từ năm 2007, đến nay đã là năm 2016, như vậy đã trải qua 30 năm đổi mới.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 22.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 17.18.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 127.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 127.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 20,21.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 23.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 25.
(9) Trong các văn bản quốc tế, cụm từ “nhà nước pháp quyền” được thể hiện bằng tiếng Anh là “state of rule of law”, tiếng Pháp là: “état de droit”. Hiện nay, chúng tôi chưa rõ người đầu tiên đưa ra khái niệm “nhà nước pháp quyền” là ai.
(10) C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, tr 313.
(11) Nguyên văn tiếng Pháp là “Du Contrat social”.
(12). G.G. Rutxô: Bàn về khế ước xã hội, bản dịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr.118.
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Hà Nội, tháng 1-1994, tr.13
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tháng 1-1996, tr.129.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tháng 1-1996, tr.129.
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.36.
(17) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.131.
(18). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.79.
(19) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.45.
(20) Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.20.
(21) Cương lĩnh…, đã dẫn, tr.19,20.
(22) Hiến pháp Việt Nam…, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.8.
(23) Hiến pháp Việt Nam…, đã dẫn, tr.161.
(24) Vấn đề này, lần đầu được ghi trong Chỉ thị 13-CT/TW, ngày 21-7-1992 của Ban Bí thư khóa VII.
(25) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, đã dẫn, tr.130.
(26) Cuốn sách này xuất bản năm 2007, nên chưa có Đại hội XI và Đại hội XII.
(27) Cuốn sách này xuất bản năm 2007, nên chưa có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng.
(28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 235.
(29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 233.