22/11/2017
Trang chủ Nhân vật lịch sử, Tiêu điểm HỒ TÙNG MẬU – NHÀ CÁCH MẠNG BẢN LĨNH, KIÊN TRUNG*

HỒ TÙNG MẬU – NHÀ CÁCH MẠNG BẢN LĨNH, KIÊN TRUNG*

tải xuống (2)Kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh nhà yêu nước và cách mạng Hồ Tùng Mậu (15-6-1896 – 15-6-2016) *

 

PGS,TS Đàm Đức Vượng**

  1. Trong “Bài điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu”, ngày 1-8-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rất thống thiết: “Chú Tùng Mậu ơi! Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng?

Về tình nghĩa riêng: Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi đấu tranh ở nước nhà, hơn 25 năm , đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ, như tay với chân.

Về công việc chung: Từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân thành lập, đến thời kỳ kháng chiến cứu nước, tôi đã thay mặt Chính phủ và Đoàn thể, giao phó cho chú những trách nhiệm nặng nề. Khi lãnh đạo Liên khu IV, khi giữ chức Tổng thanh tra và kiêm Hội trưởng Hội Việt – Hoa hữu nghị, chú không quản khó nhọc, luôn luôn vui vẻ làm tròn nhiệm vụ”(1)

Có thể nói toàn bộ cuộc đời hoạt động của nhà yêu nước và cách mạng Hồ Tùng Mậu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá trong Bài điếu đồng chí Hồ Tùng Mậu. Đó là một nhà yêu nước và cách mạng bản lĩnh, kiên cường, một nhà lãnh đạo tận tụy, một cán bộ lão luyện, một người con trung thành với Đảng với dân.

Nhà yêu nước và cách mạng Hồ Tùng Mậu (tên khai sinh là Hồ Bá Cự, trong quá trình hoạt động, Ông còn mang các bí danh: Lương, Ích, Phan Tái, Hồ Mộng Tống, Hồ Quốc Đống, Hồ Tùng Tôn, Ninh Võ, Hà Quỵ, Yên Chính, Lương Gầy, Lương Tử Anh. Năm 1919, Ông mới mang tên Hồ Tùng Mậu), sinh ngày 15-6-1896, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trên miền đất giàu truyền thống cách mạng, lại là con nhà yêu nước và cách mạng nòi. Ông nội là Hồ Bá Ôn tham gia chống Pháp, hy sinh trong khi quân Pháp tiến công thành Nam Định, ngày 27-3-1883. Thân phụ Hồ Tùng Mậu là Hồ Bá Kiện, thi đỗ cử nhân, một chí sĩ trong phong trào Văn thân, bị nhà cầm quyền Pháp bắt đày lên giam tại nhà tù Lao Bảo và bị Pháp bắn chết trong khi vượt ngục Lao Bảo.

Phong trào Văn thân là một phong trào mang tính chất quần chúng tự phát, do các nho sĩ Việt Nam lãnh đạo, khởi phát từ năm 1864, họ cứu nước với mục tiêu “Bình Tây sát tả”. Lúc đầu, phong trào do các ông Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo. Cho đến năm 1885, phong trào Văn thân mang nghĩa khí của phong trào Cần vương do Phụ chánh đại thần Triều Nguyễn Tôn Thất Thuyết nhân danh Vua Hàm Nghi, phát động. Các nho sĩ của phong trào Văn thân, trong đó có cụ Hồ Bá Kiện, phản đối Triều đình Nguyễn ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Bộ cho chính quyền Đông Pháp.  Hồ Tùng Mậu đã trải qua những ngày dạy học ở huyện Thanh Chương và huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An và trở thành nhà sư phạm có uy tín trong vùng.

Nhà giáo Hồ Tùng Mậu tiếp thu tinh thần yêu nước của người cha, rèn nghĩa khí, nung nấu tinh thần chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1919, với bí danh Hồ Tùng Mậu, Ông cùng với các nhà yêu nước Lê Hồng Sơn, Ngô Chính Học, Nguyễn Thị Tích, Đặng Quỳnh Anh, do Đặng Xuân Thanh dẫn đường, bí mật xuất dương sang Lào, rồi sang Xiêm (Thái Lan) hoạt động.

Sau ba tháng ở Trại Cày, Bản Đông, tỉnh Phi Chịt, Thái Lan, tháng 7-1920, Hồ Tùng Mậu cùng với Lê Hồng Sơn, được cụ Đặng Thúc Hứa bố trí, vượt biển sang Quảng Châu, Trung Quốc.

Tại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu ở trọ nhà chí sĩ Hồ Học Lãm, người họ hàng với Ông. Tại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu học tiếng Trung Quốc và tiếng Anh, rồi học Trường trung học An Định, sau đó là Trường Bưu điện.

Năm 1923, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong nhóm họp, lập ra Tâm Tâm xã (tức Tân Việt Thanh niên Đoàn). Tâm Tâm xã là một tổ chức của những người thanh niên yêu nước Việt Nam mang tư tưởng phục quốc, hoạt động chính trị với mục đích giành độc lập cho Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp.

Tháng 3-1924, Hồ Tùng Mậu được Phan Bội Châu giao nhiệm vụ mang tài liệu về nước tuyên truyền và vận động thanh niên xuất dương. Nhưng đến tháng 7-1924, Hồ Tùng Mậu trở lại Quảng Châu sau khi nhận được tin Phạm Hồng Thái và Lê Hồng Sơn trong nhóm Tâm Tâm xã giết hụt Toàn quyền Đông Dương Méclanh.

Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về đến Quảng Châu để chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức tiến tới thành lập đảng cách mạng ở Việt Nam. Tại Quảng Châu, Người đã sáng lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội) mà nòng cốt là Cộng sản Đoàn. Người mở lớp huấn luyện chính trị cho những thanh niên Việt Nam yêu nước sang học.

Khi Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu thì Hồ Tùng Mậu đã có mặt ở đó trước 4 tháng. Tại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu được gặp Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên Hồ Tùng Mậu được gặp Nguyễn Ái Quốc, còn trước đó, Ông chỉ được đọc những bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết, gửi từ Pháp sang Việt Nam. Phải nói rằng, Nguyễn Ái Quốc rất có cảm tình với Hồ Tùng Mậu, nhận thấy Hồ Tùng Mậu là một con người hăng hái, có ý chí, cho nên Người đã đào tạo, huấn luyện chính trị cho Hồ Tùng Mậu, kết nạp Hồ Tùng Mậu vào làm hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và kết nạp Ông vào Cộng sản Đoàn, một tổ chức nòng cốt, hạt nhân bên trong của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ban Huấn luyện chính trị đặc biệt của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đặt trụ sở tại nhà số 13, đường Văn Minh, Quảng Châu. Chính Nguyễn Ái Quốc đã nhờ Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn làm giảng viên phụ giảng của Nguyễn Ái Quốc.

Hoạt động tại Trung Quốc, tháng 3-1926, Nguyễn Ái Quốc giới thiệu Hồ Tùng Mậu gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1927, Ông bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa tại Quảng Châu bắt giam ba lần, lần lâu nhất bị giam 5 tháng. Cuối cùng, Ông cũng được trả lại tự do cùng một số người khác. Tháng 8-1928, Hồ Tùng Mậu lại bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa bắt giam cho đến tháng 11-1929.

Sau khi ra tù, từ Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu đến Hồng Công. Tại đây, Ông gia nhập Chi bộ Hải ngoại của An Nam Cộng sản Đảng. Ông có nhiều đóng góp trong hoạt động của Chi bộ Hải ngoại.

Ngày 10-10-1929, Tòa án Nam triều họp tại thành phố Vinh, Nghệ An, ra phán quyết số 115, ngày 10-10-1929, kết án tử hình Nguyễn Ái Quốc (tức Nguyễn Tất Thành). Cũng trong phiên tòa này, còn có những án tử hình: Trần Phú (tức Giáo Quý), Lê Duy Điếm (Lê Huy Điếm), Phan Tái (Tại, tức Hồ Tùng Mậu), Trần Văn Cung (tức Thái Văn Anh, Quốc Anh), Vương Thúc Oánh (tức Tống Oánh, Tổng Oánh), Ngô Thiêm. Tất cả đều tuyên xử tử hình vắng mặt, với “tội danh”: “Vận động lập Đảng Cộng sản, xúi giục đưa người ra nước ngoài, mưu đồ phản loạn”.

Đầu năm 1930, tại một hòn đảo nhỏ mang tên Cửu Long thuộc quần đảo Hương Cảng tức Hồng Công, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đứng ra tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tham dự Hội nghị này có: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, thay mặt Đông Dương Cộng sản Đảng; Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu, thay mặt An Nam Cộng sản Đảng. Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn dự Hội nghị với tư cách cán bộ lãnh đạo ở hải ngoại của Đảng. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn nhận được giấy mời chậm, không kịp cử đại biểu đến dự, nhưng sau Hội nghị, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn có làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và đã được tổ chức Đảng chấp nhận.

Sau Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Tùng Mậu ở lại Hồng Công một thời gian để tiếp tục làm công tác huấn luyện chính trị cho cán bộ trong điều kiện không có mặt Nguyễn Ái Quốc. Trong Bản Tự thuật của Lê Mạnh Trinh (tức Giáo Tiến), nhan đề: “Cuộc sống chung và riêng của đời tôi – 50 năm đầu thế kỷ XX”, kể lại chuyến đi của các ông từ Thái Lan sang Cửu Long. Lê Mạnh Trinh viết: “Đồng chí Hồ Tùng Mậu đưa chúng tôi sang Cửu Long ngay đêm đó. Khi ngồi trong ca nô, đồng chí Hồ Tùng Mậu nói cho chúng tôi biết: từ ngày 1-5-1930, các cơ quan của ta bị vỡ nhiều. Các đồng chí chúng ta như anh Trương Văn  Lĩnh (Trương Vân Lĩnh – ĐV) bị bắt, bị trục xuất, đồng chí Lý Hồng Nhật và một số nữa bị truy nã nên đã đi nơi khác”(3)

. Tại Cửu Long, Hồ Tùng Mậu đã giúp đỡ rất nhiều cho các nhà cách mạng Việt Nam lúc ấy đang ở Hồng Công. Ông đã giới thiệu được nhiều người vào làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp, xưởng sản xuất, rèn luyện cho họ trở thành những người thợ giỏi và những công nhân yêu nước. Lê Mạnh Trinh nhận xét Hồ Tùng Mậu là người sống chân tình, rất thương anh em Việt Nam sang hoạt động tại Trung Quốc. Lê Mạnh Trinh viết: “Đồng chí Hồ Tùng Mậu thường lui tới chỗ chúng tôi ở, đưa báo Nghệ tĩnh đỏ và bản Luận cương chính trị của Đảng cho chúng tôi nghiên cứu và giải thích những nghi vấn của chúng tôi, nhất là đối với bản Luận cương chính trị của Đảng”(4)

Ngày 26-6-1931, Hồ Tùng Mậu bị mật thám Pháp bắt giữ ngay khi vừa đặt chân đến Thượng Hải. Ông bị giải về tô giới Pháp, rồi bị đưa về Việt Nam xét xử. Ông bị nhà cầm quyền Đông Pháp tuyên án tử hình tại phiên tòa ngày 6-12-1931, tại Nghệ An; sau đó, giảm xuống thành án chung thân, khổ sai. Ông bị giam qua các nhà lao Vinh, Lao Bảo, nhà đày Kon Tum, rồi tiếp đến bị giam qua các nhà đày Buôn Ma Thuột, ngục Trà Khê. Cho mãi đến ngày 9-3- 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Hồ Tùng Mậu cùng các tù nhân chính trị vượt ngục Trà Khê, trở về quê nhà tại làng Quỳnh Đôi, Nghệ An. Khi lên nắm quyền, Thủ tướng Chính phủ Trần Trọng Kim có mời Ông ra làm cố vấn cho Chính phủ, nhưng Ông kiên quyết từ chối.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Tùng Mậu nhận được giấy mời của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, mời ra Hà Nội để nhận trọng trách của Đảng và Chính phủ giao phó. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ làm Chính ủy kiêm Khu trưởng khu 4. Ông giữ chưc vụ này từ tháng 10-1945 đến tháng 11-1946. Ông cũng đồng thời làm Giám đốc kiêm Chính ủy Trường Quân chính Nhượng Bạn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Năm 1947, Ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu IV, đồng thời là Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy IV.

Ngày 18-12-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử Hồ Tùng Mậu giữ chức vụ Tổng Thanh tra. Đầu năm 1950, Hội Việt – Hoa hữu nghị được thành lập. Ông được bầu làm Hội trưởng đầu tiên của Hội.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Hồ Tùng Mậu được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Hồ Tùng Mậu lập gia đình với bà Nguyễn Thị Thảo. Vì phải xa nhà đi hoạt động cách mạng triền miên, ông bà sống chung tình với nhau trong thời gian rất ngắn, tính tổng cộng chỉ khoảng trên dưới ba năm, sinh được một người con trai duy nhất là Hồ Mỹ Xuyên (tức Hồ Bá Bối). Hồ Bá Xuyên tham gia hoạt động cách mạng với tất cả tuổi thanh xuân của mình. Hồ Bá Xuyên lập gia đình với bà Nguyễn Thị Chanh và họ sinh được ba người con. Cả ba người đều là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước: Hồ Anh Dũng, nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; Hồ Ngọc Hải, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam); Hồ Đức Việt, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

Ngày 19-3-1948, Hồ Mỹ Xuyên trên đường công tác tại địa phận Lục Yên, Yên Bái, bất ngờ lâm nạn và hy sinh ở tuổi 28. Được tin người con trai duy nhất của mình ra đi về cõi vĩnh hằng, Hồ Tùng Mậu rất buồn, thương nhớ con và cũng tự an ủi mình có người con hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Được tin buồn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay đánh máy chữ, gửi thư chia buồn tới gia đình Hồ Tùng Mậu. Lời lẽ trong thư rất thống thiết.

Ngày 23-7-1951, Hồ Tùng Mậu hy sinh trên đường đi công tác tại Liên khu IV, bị máy bay Pháp bắn tại Phố Còng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Năm ấy, Ông 55 tuổi.

  1. Bản lĩnh của nhà yêu nước và cách mạng Hồ Tùng Mậu thể hiện:

Một là: Hồ Tùng Mậu là người trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, kiên cường đấu tranh để thoát khỏi sự xâm phúc cho nhân dân, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Hai là: Hồ Tùng Mậu là một nhà yêu nước và cách mạng chân chính. Với Ông, chủ nghĩa yêu nước là tình cảm đặc sắc nhất đã tồn tại trong lòng dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ tinh thần yêu nước, Ông đã giác ngộ cách mạng, đi theo cách mạng và đã thực hiện xuất sắc những nhiệm vụ cách mạng giao phó. Khi cách mạng nổ ra, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Hồ Tùng Mậu ý thức rất rõ điều này và quyết tâm làm cách mạng đến cùng.

Ba là: Hồ Tùng Mậu là người bất khuất trước kẻ thù. Cuộc đời Ông đã nhiều lần bị nhà cầm quyền Đông Pháp bắt, hai lần lĩnh án tử hình, giam hết nhà tù này đến nhà tù khác. Sống trong cảnh tù đày, bị tra tấn, đói khát, chịu đựng tới mức nghiệt ngã, nhưng không vì thế mà Ông nao núng tinh thần, trái lại, càng mài sắc ý chí chiến đấu, vì lý tưởng cách mạng cao cả của mình.

Bốn là: Hồ Tùng Mậu là người học trò trung thành và xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gần như cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Ông đều gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Suốt đời Ông theo tư tưởng của Người là độc lập và tự do cho Tổ quốc, dân tộc gắn với giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, dân tộc gắn với thời đại.

Năm là: Hồ Tùng Mậu là người có đạo đức cách mạng rất trong sáng, sống trọn đời vì nước, vì dân , cần, kiệm, liêm, chính, nhân, lễ, nghĩa, chí, tín. Ông thật sự hòa bình vào quần chúng, đem lòng yêu mến nhân dân với tình cảm chân thành và gắn bó thiết tha. Theo ông, hoạt động trong lòng dân sẽ được nhân dân che chở, đùm bọc, là an toàn nhất. Ông là một người làm rất tốt công tác dân vận. Chuyện kể rằng, có lần ở trên núi rừng Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, ngày 20-7-1948, Ông đi dự hội nghị bàn về công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Tới nơi, Ông tranh thủ gặp gỡ từng đại biểu, nhất là những đại biểu ở xa như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, ân cần hỏi thăm sức khỏe của từng người và công việc kháng chiến, kiến quốc của từng địa phương, làm mọi người cảm động. Ông nói rằng, lâu ngày chúng ta mới gặp nhau, vui mừng lắm.

Hồ Tùng Mậu là một nhà yêu nước và cách mạng trí thức bản lĩnh, điều này thể hiện trong cuộc đời hoạt động của Ông. Hình ảnh của Ông mãi mãi như một cuốn phim dài chiếu mãi mãi trong trái tim chúng ta và tên tuổi của Ông đã đi vào lịch sử.

——

* Bài đăng báo Quân đội Nhân dân, số ra ngày 15-6-2016.

** Nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.

  1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 7, tr. 148.
  2. Tự thuật của Lê Mạnh Trinh: Cuộc sống chung và riêng của đời tôi – 50 năm đầu thế kỷ XX, bản đánh máy, tr.102.

3,4. Tự huật của Lê Mạnh Trinh: Cuộc sống chung và riêng của đời tôi – 50 năm đầu thế kỷ XX, bản đánh máy, tr.104.