22/11/2017
Trang chủ Nghiên cứu khoa học, Tiêu điểm HỌ ĐÒI ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG NHẰM MỤC ĐÍCH GÌ?

HỌ ĐÒI ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG NHẰM MỤC ĐÍCH GÌ?

 PGS,TS Đàm Đức Vượng

 

1. Gần đây, trên các trang mạng xã hội lại rùm beng lên các bài viết, bài nói đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện chế độ đa Đảng và đa nguyên chính trị. Họ gào lên như thế chỉ nhằm xóa sổ Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Đây là âm mưu thâm độc của những kẻ bất mãn với chế độ dân chủ cộng hòa, trở thành những kẻ đi ngược lại lợi ích dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Tại Việt Nam, trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có tới hơn một trăm đảng phái và các tổ chức chính trị xuất hiện, chứ không phải là một nước độc đảng như người ta rêu rao, như Đảng Lập hiến Đông Dương, Đảng Tân Việt (Tân Việt Cách mạng Đảng), Đảng Phục Quốc, Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng Đảng (Việt Cách), Đảng Việt Nam độc lập (An Nam Độc lập Đảng), Đảng Thanh niên cao vọng, Đảng Dân chủ Đông Dương, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam,… Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo thống kê chưa đầy đủ của tôi, từ trước và sau Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tại Việt Nam đã có 102 đảng phái và các tổ chức chính trị xuất hiện, nhưng các đảng phái đó, tự lụi tàn dần trên chính trường Việt Nam, bởi nó không đáp ứng được xu thế phát triển của Việt Nam, còn lại là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ phẩm chất, uy tín lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đủ bản lĩnh và trí tuệ đưa Việt Nam trở thành dân giàu, nước mạnh.

Trong quá trình đấu tranh, các đảng đó phải tự nguyện rút lui trên chính trường Việt Nam, vì không đủ sức lãnh đạo và các đảng đó thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng rất xứng đáng trong việc tập hợp nhân dân, tạo thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mang lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc và đang tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, được nhân dân đồng tình và thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam. Nhờ kinh tế phát triển, đời sống nhân dân rõ ràng được nâng cao hơn trước.

2.Xin nói rõ cụ thể hơn về một số đảng phái của Việt Nam trước và sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Đảng Lập hiến Đông Dương:

Một Đảng hoạt động tại Nam Kỳ từ năm 1923 đến khoảng năm 1939, thì chấm dứt hoạt động. Đảng này do kỹ sư canh nông Bùi Quang Chiêu, mang quốc tịch Pháp, đứng ra thành lập. Lực lượng tham gia Đảng Lập hiến chủ yếu là người Việt thuộc thành phần giai cấp tư sản dân tộc, đại địa chủ, trí thức tiểu tư sản, một số sĩ quan phục vụ trong hàng ngũ quân đội thực dân Pháp. Phạm vi hoạt động chủ yếu là ở Nam Kỳ. Chủ trương, đường lối của Đảng Lập hiến là thỏa hiệp với thực dân Pháp, nhằm giành quyền lợi về kinh tế cho người Việt Nam, chủ trương giành độc lập thông qua việc cải cách xã hội, thu nhập và phát triển văn hóa phương Tây. Nhưng than ôi! Thực dân Pháp không những không ban quyền lợi kinh tế cho người Việt Nam, mà còn vơ vét của cải của Việt Nam để mang về Pháp, làm cho các đảng viên Đảng Lập hiến thất vọng. Đảng Lập hiến không hề chú tâm vào việc vận động nhân dân, mà chỉ trông vào giới trung lưu người Việt Nam. Đảng thỏa hiệp với chính quyền thuộc địa để đạt được tiến bộ xã hội và bình đẳng với người Pháp, rồi tiến đến tự trị. Nhà cầm quyền Đông Pháp đã chi phối được Đảng Lập hiến và bắt họ phải hoạt động trong khuôn khổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương, làm cho các đảng viên Đảng Lập hiến hạn chế hoạt động. Nội bộ Đảng Lập hiến mất đoàn kết, chia rẽ, bè phái, xung khắc giữa thủ lĩnh Đảng Bùi Quang Chiêu với Nguyễn Phan Long trong Ban lãnh đạo Đảng, làm cho Đảng ngày thêm lục đục, trở thành cái bóng trên chính trường Việt Nam lúc đó, đã dẫn đến sự rã đám nhanh chóng và chấm dứt hoạt động vào khoảng năm 1939. Số phận của Bùi Quang Chiêu và phe thỏa hiệp cũng chấm dứt.

Đảng Tân Việt (Tân Việt Cách mạng Đảng):

Ngày 14-7-1925, một số tù chính trị cũ ở Trung Kỳ như Lê Văn Huân,… và một số giáo viên như Trần Mộng Bạch, Trần Phú, Hà Huy Tập,… cùng một số sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai,… đã lập ra Hội Phục Việt (còn được gọi là Đảng Phục Việt), sau đổi tên thành Hội Hưng Nam. Đến năm 1926 đổi thành Việt Nam Cách mạng Đảng. Đến tháng 7 năm 1927, lại đổi thành Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội. Hội đã nhiều lần họp bàn với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng thất bại. Ngày 14-7-1928, Hội họp đại hội tại Huế quyết định lấy tên là Tân Việt Cách mệnh Đảng.

Chủ trương của Đảng là lãnh đạo quần chúng trong nước, và liên lạc với các dân tộc bị áp bức trên thế giới nhằm “Đánh đổ đế quốc, xây dựng một xã hội bình đẳng, bác ái…”. Lực lượng chủ yếu là các trí thức,thanh niên tiểu tư sản yêu nước. Đảng hoạt động chủ yếu ở phạm vi các tỉnh Trung kỳ.

Năm 1928, Việt Nam Quốc dân Đảng cử Hoàng Văn Tùng liên lạc với Đảng Tân Việt trong khi Nguyễn Ngọc Sơn và Lê Văn Phúc thương thảo với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để tìm cách thống nhất tất cả các phần tử chống thực dân Pháp, nhưng không đạt được sự đồng thuận, cho nên ba nhóm này tiếp tục con đường riêng.

Năm 1929, Lê Huân thuộc Đảng Tân Việt bị nhà chức trách Pháp bắt giam. Trong khi trong ngục, ông tuyệt thực rồi mổ bụng tự sát. Phó đảng trưởng là Lê Đình Kiên cũng bị bắt đến năm 1933 mới phóng thích. Những nhân vật khác có chân trong Đảng là Nguyễn Hiệt Chi, Trần Hoành, Lê Đại, Đào Duy Anh, Tôn Quang Phiệt, Hoàng Trần Liễn.

Tôn Quang Phiệt từng đóng góp nhiều bài luận văn đăng trên báo “Nam Phong”, kêu gọi tuổi trẻ Việt đoàn kết, kỷ luật và hành động để tìm công lý cho dân tộc.

Đảng Tân Việt hoạt động trong điều kiện Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát triển mạnh, cho nên các đảng viên Đảng Tân Việt chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc, được coi như kim chỉ nam của đảng viên Đảng Tân Việt. Một số đảng viên trẻ gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một số đảng viên còn lại thì ở lại tích cực chuẩn bị thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, còn một số khác thì chủ trương thành lập Liên đoàn Quốc gia.

Đến Tháng 9-1929, một số đảng viên dưới ảnh hưởng tư tưởng cộng sản của Đảng Tân Việt tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, hình thành nhiều chi bộ ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và cả ở Bắc Kỳ. Theo kế hoạch, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức họp đại hội ngày 1 tháng 1 năm 1930, nhưng do nhiều đại biểu trên đường đi bị Pháp bắt, cho nên đại hội không thể tiến hành được. Tuy vậy, với Tuyên đạt tháng 9-1929, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vẫn chính thức ra đời, hoạt động, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Ngày 24-2-1930, Đông Dương Cộng sản liên đoàn đã gia nhập Cộng sản Việt Nam.

Tân Việt Cách mệnh Đảng (hay gọi tắt là Đảng Tân Việt) là một chính đảng tồn tại ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX với chủ trương “Đánh đổ đế quốc, xây dựng một xã hội bình đẳng, bác ái”. Đảng Tân Việt chấm dứt hoạt động vào năm 1929, khi phân chia làm hai phái. Một phái với xu hướng thành lập Liên đoàn Quốc gia  và một phái với ảnh hưởng của tư tưởng cộng sản tách ra thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, về sau Đông Dương Cộng sản Liên đoàn sáp nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việt Nam Quốc dân Đảng:

Vào đầu thế kỷ XX, không chịu nổi ách thống trị và đàn áp của thực dân Pháp tại Việt Nam, nhiều sĩ phu yêu nước đã nảy sinh tư tưởng cứu nước, trong đó có Nguyễn Thái Học, một học sinh Trường Cao đẳng Thương mại Đông Dương, đã cùng một số người yêu nước khác như Phạm Tuấn Tài, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Lâm,  Nhượng Tống, Hồ Văn Mịch, Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Văn Phúc,… bí mật thành lập một tổ chức đấu tranh cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập và tự do cho dân tộc. Đó là Việt Nam Quốc dân Đảng. Tiền thân của Việt Nam Quốc dân Đảng là tổ chức Nam Đồng Thư xã, tên một nhà xuất bản, đồng thời cũng là một hiệu sách bán những sách báo tiến bộ lúc đó, do Phạm Tuấn Tài, Nhượng Tống, Phạm Tuấn Lâm thành lập vào cuối năm 1925; sau đó, Nguyễn Đức Cảnh cũng tham gia Nam Đồng Thư xã và cũng gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng trước khi trở thành đảng viên cộng sản. Trụ sở của Nam Đồng Thư xã lúc bấy giờ ở số 6, đường 96, bờ hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Từ tổ chức Nam Đồng Thư xã, ngày 25-12-1927, nhóm thanh niên yêu nước trên tổ chức Đại hội thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng. Ban lãnh đạo của Đảng lúc đầu gồm 9 người, do Nguyễn Thái Học làm Chủ tịch Tổng bộ (còn gọi là Đảng trưởng). Đảng tổ chức 3 đảng viên thành một tổ (gọi là “tổ tam tam”); 19 đảng viên trở lên thành lập một chi bộ; cao hơn chi bộ là xã bộ, huyện bộ, rồi cuối cùng là Tổng bộ ở cấp quốc gia.

Mục tiêu hoạt động của Đảng là: “Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng vũ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của họ, đặc biệt là các nước lân cận: Ai Lao, Cao Miên”.

Tuy mới ra đời, Việt Nam Quốc dân Đảng hoạt động rất mạnh. Các tổ chức của Đảng phát triển rất nhanh, lan ra toàn Bắc Kỳ, rồi vào Trung Kỳ, một số đảng viên được cử vào hoạt động tại Nam Kỳ. Kết quả cao nhất trong hoạt động của Đảng dẫn đến các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ tại nhiều địa phương ở Bắc Kỳ như Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao (Phú Thọ), Vĩnh Bảo (Hải Phòng),… Lớn nhất là cuộc khởi nghĩa Yên Bái nổ ra vào ngày 10-2-1930. Rất tiếc là cuộc khởi nghĩa này đã bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Ngay trong ngày này, lãnh tụ Nguyễn Thái Học cùng 12 đảng viên của Đảng  bị Pháp bắt tại làng Cổ Vịt, gần đồn Pháp đóng ở Chi Ngại, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Thái Học và các đảng viên của Đảng bị đưa về giam tại Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội, rồi Pháp lại áp giải Nguyễn Thái Học từ ngục thất Hà Nội lên Yên Bái bằng xe lửa chiều ngày 16-6-1930 để chém đầu. Vào lúc 5 giờ 35 phút sáng 17-6-1930, tại Pháp trường Yên Bái, Nguyễn Thái Học cùng 12 đảng viên viên khác, trong đó có Đảng phó Phó Đức Chính, bị Pháp chặt đầu.

Sau thất bại cay đắng này, các tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng tan ra từng mảng; một bộ phận đầu hàng Pháp; một bộ phận chạy sang Trung Quốc, gia nhập vào Quốc dân Đảng Trung Hoa; một bộ phận xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng chấm dứt từ sau cuộc bạo động Yên Bái.

Vào cuối năm 1929, tại Việt Nam, xuất hiện 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

     Đông Dương Cộng sản Đảng:

Sự kiện dẫn đến việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng bắt nguồn từ Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên họp tại Hương Cảng vào tháng 5-1929. Ttrong phiên họp ngày 5-5-1929, xoay quanh vấn đề có lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam hay không? Đoàn đại biểu Thanh niên Bắc Kỳ do Ngô Gia Tự làm Trưởng Đoàn, nhất quyết đề nghị phải thành lập ngay tức khắc một đảng cộng sản ở Việt Nam. Lý lẽ của các đại biểu Bắc Kỳ được thể hiện trong Tuyên ngôn thoát ly Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra về, là ở Việt Nam tư bản đã phát đạt thành tư bản tập trung; giai cấp vô sản ở Việt Nam ngày càng đông và nông dân nghèo cũng ngày một nhiều; hiện ở Việt Nam chưa có đảng nào là đại biểu cho giai cấp vô sản; Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên “là một đoàn thể tiểu tư sản trí thức, một đoàn thể quốc gia tán thành xã hội chủ nghĩa”. “Tôn chỉ của Hội là “trước làm quốc dân cách mệnh, sau làm thế giới cách mệnh” có tính chất hoạt đầu (cơ hội) giả cách mệnh”. Tuyên ngôn phê phán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không liên hệ gì với Quốc tế Cộng sản, lại còn cử đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba Quốc dân Đảng Trung Quốc là một đảng phản cách mạng, phản công nông. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên “không phải là một chính đảng chân chính vì lợi ích của vô sản giai cấp” Vì những lẽ trên, Đoàn đại biểu Bắc Kỳ nhận thấy đã đến lúc phải lập ngay “một đảng đại biểu cho vô sản giai cấp, một đảng duy nhất có thể giải quyết được các vấn đề quan hệ đến vô sản giai cấp, một đảng để lãnh đạo cho tất cả công cuộc cách mệnh ở An Nam, tức là Đảng Cộng sản”.

Trong khi Đoàn đại biểu Bắc Kỳ tham dự Đại hội khăng khăng đòi lập một đảng cộng sản ở Việt Nam thì một số người, nhất là Lâm Đức Thụ (Trương Công Viễn, Trương Béo, Tường Báo) trong Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tham dự Đại hội, cứ khăng khăng đòi hoãn lại việc thành lập một đảng cộng sản ở Việt Nam với lý do cách mạng chưa trưởng thành, trình độ giác ngộ và sức đấu tranh của quần chúng còn non quá, trình độ lý luận và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng còn kém quá, nên điều kiện để thành lập một Đảng Cộng sản thì chưa đủ… Phái Lâm Đức Thụ còn đưa ra lý do đây là Đại hội của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, là công việc của Thanh niên, chứ không phải là công việc của Đảng, cho nên không thể mang vấn đề lập Đảng Cộng sản ra bàn ở Đại hội Thanh niên được. Cuộc tranh luận nổ ra gay gắt tại Đại hội.

Thấy tình hình căng thẳng, không thống nhất được với nhau về quan điểm, ngày 1-6-1929, thì “Quốc Anh (Trần Văn Cung) cùng với hai đại biểu khác của Bắc Kỳ(1), chạm lòng tự ái, bỏ Đại hội ra về. Nhưng Đại hội vẫn tiếp tục họp, những nghị quyết của Đại hội được tập trung trong một tài liệu riêng”(2).

Sau khi về nước, Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự báo cáo với những người trong Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở trong nước, Chi bộ 5D Hàm Long, Hà Nội, về lý do Đoàn đại biểu Bắc Kỳ thoát lý Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi nghe báo cáo, những người cộng sản ở Chi bộ 5D Hàm Long, Hà Nội thấy phải lập ngay một đảng cộng sản ở Việt Nam. Đó là sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng.

Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập ngày 17-6-1929, tại số nhà 312, phố Khâm Thiên, Hà Nội, với sự hiện diện của Ngô Gia Tự (Ngô Sĩ Quyết, Chín Tự, Bách), Nguyễn Đức Cảnh (Nguyễn Đức Trọng, Năm, Quý, Bé,…), Nguyễn Phong Sắc (Nguyễn Văn Sắc, Thịnh, Thanh), Đỗ Ngọc Du (Phiếm Chu), Trần Văn Cung (Quốc Anh), Trịnh Đình Cửu (Lê Đình, Lê Chí, Chí), Trần Tư Chính (Bàng Thống),… vào khoảng 20 người.

Về tên gọi của Đảng, tên chính thức là “Đảng Cộng sản Đông Dương”(3). Tên này đã được ghi rõ trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương”. Bên cạnh tên gọi chính thực, một số văn kiện của Đảng còn ghi là “Đông Dương Cộng sản Đảng”. Để khỏi lẫn lộn tên gọi “Đảng Cộng sản Đông Dương”, do Hội nghị Trung ương, tháng 10-1930, công bố, với tên gọi “Đảng Cộng sản Đông Dương”, do Hội nghị họp tại số nhà 312, phố Khâm Thiên, Hà Nội, lập ra, người ta thường gọi là “Đông Dương Cộng sản Đảng”. Lại có tài liệu viết là “Đảng Cộng sản Đông Dương Bắc Kỳ”(4).

Hội nghị đã cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời: Ngô Gia Tự (Ngô Sĩ Quyết, Chín Tự, Bách), Nguyễn Đức Cảnh (Nguyễn Đức Trọng, Năm, Quý, Bé,…), Nguyễn Phong Sắc (Nguyễn Văn Sắc, Thịnh, Thanh), Đỗ Ngọc Du (Phiếm Chu), Trần Văn Cung (Quốc Anh), Trịnh Đình Cửu (Lê Đình), Trần Tư Chính (Bàng Thống).

Địa bàn hoạt động của Đông Dương Cộng sản Đảng chủ yếu ở Bắc Kỳ, nhưng có các cơ sở ở Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Hội nghị thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ Đảng, lấy cờ đỏ búa liềm làm cờ của Đảng. Đảng tổ chức Công hội đỏ Bắc Kỳ, Nông hội, Hội Phụ nữ giải phóng,…, xuất bản báo “Búa Liềm” ở Trung ương, báo “Bônsơvích” ở Trung Kỳ, báo “Cờ Cộng sản” ở Nam Kỳ.

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương” (gọi tắt và Tuyên ngôn) dài 42 trang, được biên soạn rất công phu, bài bản.

Đông Dương Cộng sản Đảng xác định mình là đảng cách mạng chân chính, đại biểu cho giai cấp thợ thuyền (công nhân) ở Đông Dương, gồm những người tiên tiến nhất trong giai cấp thợ thuyền. Đảng bênh vực quyền lợi cho toàn thể giai cấp vô sản, nông dân nghèo và tất cả những người lao động bị bóc lột và đè nén. “Đảng Cộng sản là đảng bênh vực lợi ích cho toàn thể vô sản giai cấp, dân cày nghèo và tất cả các người làm lụng bị bóc lột và đè nén”(5). Mục đích của Đảng là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa; đánh đổ tư bản chủ nghĩa; diệt trừ chế độ phong kiến; giải phóng công nông. “Thực hiện xã hội thực bình đẳng, tự do, bác ái, tức là xã hội cộng sản”(6). Đảng thực hiện công nông liên hiệp nhằm đánh đổ đế quốc chủ nghĩa; đánh đổ tư bản chủ nghĩa; diệt trừ chế độ phong kiến(7); giải phóng công nông; “lập thành vô sản giai cấp chuyên chính”(8).

Tuyên ngôn giải thích sâu sắc về chủ nghĩa cộng sản: “Chủ nghĩa cộng sản: tức là Mác – Lênin chủ nghĩa không phải là một chủ nghĩa cao xa huyền bí gì, cũng không phải của một người tự ý bịa đặt ra, mà chính là một chủ nghĩa khoa học nghĩa là căn cứ vào sự thực”(9). Chủ nghĩa cộng sản là muốn thay thế xã hội tư bản lỗi thời bằng một xã hội tốt đẹp hơn, xã hội cộng sản thực sự bình đẳng. Tuyên ngôn chỉ ra rằng, lịch sử loài người từ cổ chí kim là lịch sử có giai cấp và tranh đấu giai cấp. Giai cấp tranh đấu làm biến đổi xã hội. Mâu thuẫn đối kháng trong xã hội là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đấu tranh giai cấp nhằm xóa bỏ giai cấp. “Đế quốc chủ nghĩa là thời kỳ tư bản chủ nghĩa phát đạt đến cực điểm mà cũng là thời kỳ mạt vận của tư bản chủ nghĩa”(10). Nền gốc của xã hội tư bản là chế độ của riêng, giàu nghèo thiên lệch, một nguyên nhân gây ra bất bình đẳng, người áp bức người, dân tộc này áp bức dân tộc kia. Của cải của xã hội tư bản nằm trong tay một nhúm các nhà tư bản, còn đa số những người lao động lại trắng tay. Đó là một xã hội nghịch lý giữa nhà tư bản và người lao động. Đó là lý do phải thanh toán xã hội cũ, xã hội tư bản, mà xây dựng xã hội mới. Đó là một xã hội tự do tổ chức, tự do ngôn luận, tự do đọc sách báo, làm báo, làm sách, tự do mở trường, tự do học hành, tự do đi lại, tự do tuần hành; quyền hợp pháp cho hội hè quần chúng; quyền hợp pháp cho chính đảng(11).

Theo quan điểm của những người trí thức thảo ra bản Tuyên ngôn (12) này, thì khi giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) đã phá bỏ giai cấp tư sản, phải tiếp tục xây dựng một xã hội mới, không được dừng lại. Nền móng của xã hội tư bản là chế độ của riêng, thì nền móng của xã hội mới sẽ là chế độ của công. Xã hội tư bản là xã hội phân chia giai cấp, còn xã hội mới, xã hội cộng sản sẽ không phân biệt giai cấp. Trong xã hội mới, sức lao động sẽ được xã hội hóa, nghĩa là của cải làm ra cho mọi người trong xã hội mua dùng, chứ không phải chỉ riêng làm giàu cho một người, một số người, hay một giai cấp nào. Chỉ có giai cấp vô sản mới có khả năng tổ chức ra một xã hội mới. Rường cột của xã hội mới là như thế.

Tuyên ngôn giải thích có tính chất thanh minh về xã hội cộng sản không phải là “cộng tài”, như một số người đã hiểu sai và cố tình xuyên tạc; cũng không phải đem tài sản chia đều cho mọi người, vì có vật không thể chia đều được (như đường xe lửa,…). Nếu chia đều như thế, tất sinh ra cạnh tranh, cá lớn nuốt cá bé và sẽ quay về chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, người cộng sản chỉ trừ bỏ cái chế độ riêng thôi, nghĩa là không để cho một người, một nhúm người chiếm độc quyền của cải xã hội. Khi chế độ của riêng vẫn còn, thì xã hội còn phân chia giàu, nghèo, giai cấp này áp bức giai cấp khác, mà cũng do đó mà sinh ra muôn vàn sự khổ ải, xấu xa, tội lỗi trong xã hội. Quan điểm của những người cộng sản là của cải trong xã hội do người lao động tạo ra, thì nó phải được hưởng chung, đó là công bằng. Khi giai cấp đã không còn, thì học thức tương xứng, không còn ai ỷ lại học thức của mình để đi đè nén người khác.

Tuyên ngôn phê phán quan điểm tư sản cho rằng, “cộng sản là cộng thê”(13), tức là “cộng vợ”. Đây là lối suy diễn tùy tiện, vì họ cho rằng, đã gọi là của cải của chung, thì đàn bà cũng là của chung, “chứ họ có biết đâu rằng, người đàn bà không phải là một đồ chơi cho đàn ông”(14) “Trong xã hội cộng sản, người đàn bà cũng như đàn ông quyền lợi đều ngang nhau”(15).

     Với tầm nhìn xa, trông rộng, những người dự thảo Tuyên ngôn phân tích sâu sắc rằng, sau khi cách mạng thành công, các giai cấp bóc lột không phải sẽ bị tiêu diệt hết, mà nó còn mầm mống phá hoại cách mạng. Vì vậy, việc gây dựng một xã hội mới, một nền kinh tế mới không phải một lúc mà xong được. Cách mạng không phải nước nào cũng thành công trong cùng một lúc. Nhất thiết nó phải trải qua một thời kỳ quá độ(16), một thời kỳ phải đi qua để sang một thời kỳ khác. Trong thời kỳ quá độ, cách mạng phải tiếp tục đánh đổ các giai cấp bóc lột; phải mau mau làm cách mạng thế giới; gây dựng xã hội mới; giáo dục mọi người theo tinh thần cộng sản.

Tuyên ngôn khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân Việt Nam; “bạn đồng minh mạnh nhất của vô sản giai cấp tức là giai cấp dân cày”(17), thực hiện công nông liên mình.

Căn cứ vào tình hình kinh tế, chính trị thế giới, Tuyên ngôn đề ra nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương là liên hiệp công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, thực hiện “cuộc cách mệnh ở Đông Dương là tư sản dân chủ cách mệnh”(18), đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc Pháp, phong kiến, Đông Dương hoàn toàn độc lập, “thực hành thổ địa cách mệnh”(19), tịch ký ruộng đất của địa chủ giao cho dân cày. Ngoài liên hiệp công nông ra, cách mạng còn có thể liên hiệp với giai cấp tiểu tư sản trí thức và thương gia; lập chính phủ công nông binh(20); lập công nông chuyên chính; bỏ quốc trái; đánh thuế lợi tức; thừa nhận dân tộc tự quyết; thâm nhập quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh hằng ngày.

Điểm hạn chế trong Tuyên ngôn là đánh giá sai tầng lớp trí thức: “Tụi trí thức, như thư ký các công sở, học sinh, giáo học, vì có học thức, nên chóng giác ngộ, thường đứng ra hô hào trước nhất. Đương khi đánh đuổi đế quốc chủ nghĩa, thì tụi này rất hăng hái, liên hiệp với công nông để làm cách mệnh dân tộc. Nhưng cách mệnh càng tiến hành thì tụi đó cứu dần dần lui về”(21). Sự thật thì không phải như vậy. Trong suốt tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, trí thức Việt Nam gắn bó chặt chẽ với dân tộc, cùng công nông và nhân dân lao động đã góp phần giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Tuyên ngôn trung thành với lý luận Mác – Lênin, nhưng lại thiếu đi sự vận dụng sáng tạo những lý luận ấy vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

Dù sao, cũng phải thấy rằng, hoạt động trong hoàn cảnh thiếu thốn, nghiệt ngã, mật thám Pháp và chỉ điểm tay sai của mật thám Pháp theo rõi hằng ngày, hằng giờ, lùng sục, bắt bớ, tra tấn cực kỳ tàn bạo, mà những nhà trí thức cách mạng trong Đông Dương Cộng sản Đảng vẫn soạn thảo được một bản Tuyên ngôn công phu như thế, thật đáng khâm phục. Cũng đừng nên chê trách, cho rằng, Tuyên ngôn là “giáo điều cộng sản”. Những người nói như vậy là không hiểu gì về những nhà cách mạng – cộng sản Việt Nam thời kỳ thành lập Đảng.

Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập khoảng 4 tháng, ngày 4-10-1929, Trung ương Đảng gửi thư tới những người Việt Nam ở Trung Quốc, thông báo về sự phát triển của hệ thống tổ chức của Đảng đã lan ra khắp Trung, Nam, Bắc và kêu gọi những người có đủ điều kiện và tiêu chuẩn xin hãy gia nhập tổ chức này. Đối với các đảng phái khác, Đông Dương Cộng sản Đảng phê phán Đảng Tân Việt, cho rằng, Đảng này cũng như Thanh niên, theo chủ nghĩa cải lương, giả danh cộng sản(22). Đối với Việt Nam Quốc dân Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng chủ trương giành lại quần chúng và có thể hợp tác nhất thời với Đảng.

Đông Dương Cộng sản Đảng ra một số lời kêu gọi quần chúng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, mang lại quyền sống, quyền làm người cho nhân dân Đông Dương.

Ngày 23-11-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng công bố một văn kiện (thực chất là một cuốn sách) rất dài (hơn 65 trang), nhan đề: “Nhiệm vụ cần kíp của những người cộng sản Đông Dương”, phân tích khá sâu sắc về sự bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương; tình cảnh của thợ thuyền và dân cày ở Đông Dương; phê phán đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, cho rằng, Hội đã ngả sang màu sắc cải lương; phê phán sự chia rẽ và sự biệt lập của những người cộng sản Đông Dương; nêu nhiệm vụ cốt yếu của những người cộng sản Đông Dương là phải thu phục quảng đại quần chúng công nông, hướng dẫn họ lên trường tranh đấu,  mang lại quyền lợi cho quần chúng cần lao.

Ngày 7-1-1930, Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng ra Nghị quyết về chấn chỉnh nội bộ, tăng cường công tác quần chúng và sẵn sàng đối phó với chiến tranh đế quốc.

Khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, Nguyễn Ái Quốc vẫn đang trên đường từ châu Âu về Thái Lan, nên Người không biết Đông Dương Cộng sản Đảng đã được thành lập. Chỉ đến khi có người sang Thái Lan gặp Người báo cáo thì Người mới rõ.

An Nam Cộng sản Đảng:

Sau khi “Đông Dương Cộng sản Đảng” ở Bắc Kỳ được thành lập, thì tại Nam Kỳ, một tổ chức cộng sản khác cũng ra đời.  Đó là “An Nam Cộng sản Đảng”.

Vào tháng 8-1929, tại Sài Gòn, Châu Văn Liêm cùng một số cốt cán của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhóm họp tại Sài Gòn, bàn việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản An Nam. Đến tháng 9-1929, một số cán bộ của Thanh niên đang hoạt động tại Trung Quốc và cán bộ vừa ở trong nước sang, trong đó có Châu Văn Liêm, cùng nhau lập Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng tại Trung Quốc. Chi bộ ra tờ báo “Đỏ”.

Ngày 20-10-1929, Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng tại Trung Quốc gửi thư lên Quốc tế Cộng sản. Bức thư dài hơn 11trang, đã trình bày một cách khá đầy đủ về tình cảnh của công nhân trong cả nước và các phong trào đấu tranh của họ với những nhận định quan trọng. Thư viết:

“Có thể nói, trước năm 1928, giai cấp vô sản Đông Dương chưa có ý thức giai cấp, nhưng nhờ có phong trào Quốc tế thúc đẩy và phong trào tiểu tư sản lôi cuốn thợ thuyền và dân cày, nên ý thức đó đã được thức tỉnh”(23).

Thư phê phán mạnh những sai lầm về đường lối và phương pháp tổ chức của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Sau thư gửi Quốc tế Cộng sản, Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng tại Trung Quốc, còn có báo cáo vào cuối năm 1929, cũng gửi Quốc tế Cộng sản, bổ sung thư gửi Quốc tế Cộng sản trước đó. Báo cáo còn đề cập đến tình hình các đảng chính trị ở Việt Nam: Đảng của Nguyễn An Ninh, Đảng Việt Nam quốc dân (Việt Nam Quốc dân Đảng), Đảng Tân Việt cách mạng (Tân Việt Cách mạng Đảng),…

Lúc này, tại Nam Kỳ, có tổ chức “Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng Cờ Đỏ”, thành lập ngày 10-11-1929, tại đồn điền Cờ Đỏ thuộc làng Thới Đông, quận Ô Môn (nay là huyện Cờ Đỏ), do Hà Huy Giáp làm Bí thư. Sự ra đời của Chi bộ này không chỉ thúc đẩy phong trào cách mạng ở Cần Thơ, mà còn tác động mạnh mẽ đến nhiều địa phương trong vùng như Đồng Tháp, An Giang,… Từ Chi bộ này, trong tỉnh Cần Thơ có thêm nhiều chi bộ khác được thành lập. Các tổ chức quần chúng của Đảng như công hội đỏ, nông hội đỏ, thanh niên phản đế, phụ nữ phản đế cũng được tổ chức ở nhiều nơi. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng Cờ Đỏ, quần chúng đã vùng lên đấu tranh chống chính sách bóc lột của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.

Khi trở về Sài Gòn, Châu Văn Liêm và các đồng chí của Ông đã nhất trí tổ chức Đại hội lập An Nam Cộng sản Đảng vào khoảng tháng 11-1929, tại Khánh Hội, Sài Gòn, trên cơ sở các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ. Đại hội thành lập An Nam Cộng sản Đảng bầu Ban Lâm thời chỉ đạo (Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời) gồm 5 người do Châu Văn Liêm làm Bí thư.

Tên gọi của Đảng là “An Nam Cộng sản Đảng”, tự nhận là Chi bộ của Quốc tế Cộng sản, nên trong Điều lệ của An Nam Cộng sản Đảng ghi tên gọi đầy đủ là “An Nam Cộng sản Đảng Chi bộ Quốc tế Cộng sản”(24). Một số văn kiện của Đảng còn ghi “Đảng Cộng sản An Nam”. Nhiều hồi ký của các vị lão thành cách mạng ghi là “An Nam Cộng sản Đảng”.

Đảng có Điều lệ; xuất bản tạp chí “Bônsơvích”, Cơ quan Lý luận của Đảng. Đảng tổ chức ra các công hội, nông hội, hội học sinh,… để tập hợp quần chúng.

Điều lệ của An Nam Cộng sản Đảng ghi điều kiện vào Đảng phải là những người tin theo chương trình của Quốc tế Cộng sản; hăng hái phấn đấu trong một bộ phận (tổ chức) của Đảng; phục tùng mệnh lệnh của Đảng và góp nguyệt phí, có thể kết nạp vào Đảng; là những người thợ, lính giác ngô, dân cày, những người làm nghề thủ công(25).

Về hệ thống tổ chức, Điều lệ ghi rõ, Đảng tổ chức theo hệ thống từ dưới lên trên: chi bộ; phân bộ (cấp huyện và tương đương); tỉnh bộ; khu bộ; trung ương. Ngoài tổ chức đảng các cấp, Đảng còn có các đoàn thể quần chúng. Đảng tổ chức theo dân chủ tập trung; các cơ quan chỉ huy trong Đảng đều do đại hội, đại hội đại biểu cử ra; cấp dưới phục tùng cấp trên; lấy chi bộ làm gốc (tổ chức cơ sở đảng).

Điều lệ quy định nếu có ba đảng viên trở lên thì được lập một chi bộ; Trung ương Chấp ủy phải có ít nhất chín người chính thức và ba người dự bị.

Điều lệ quy định chi bộ mỗi tuần lễ họp một lần; phân bộ mỗi tháng họp một lần; tỉnh bộ hai tháng họp một lần; khu bộ bốn tháng họp một lần; toàn quốc một năm họp một lần; họp bất thường, khi cần.

Về đóng nguyệt phí, Điều lệ quy định người kiếm được dưới 10 đồng mỗi tháng, góp 0đ10; kiếm được từ từ 10 đến 20 đồng mỗi tháng, góp 1/20; kiếm được từ 21 đồng đến 40 đồng mỗi tháng, góp 1/5(26); kiếm được từ 41 đồng đến 60 đồng mỗi tháng, góp 1/10(27); kiếm được trên 60 đồng mỗi tháng, góp 15%.

Điều lệ quy định kỷ luật Đảng.

Mối đảng viên gia nhập Đảng đều phải thề:

“Tôi là…đứng trước mặt các đồng chí, xin thề rằng, từ nay tôi gia nhập An Nam Cộng sản Đảng, Chi bộ Quốc tế Cộng sản, xin hăng hái cả quyết hy sinh theo chủ nghĩa Mác – Lênin, mưu lợi ích cho vô sản giai cấp, thực hiện xã hội cộng sản, nếu nửa đường tới chán nản, phản đảng, phản chủ nghĩa, xin chịu chết”(28).

An Nam Cộng sản sau khi thành lập, ra “Lời Thông báo giải thích cho đồng chí vì sao phải tổ chức Đảng Cộng sản An Nam”(29). Lời Thông báo này viết cũng rất dài, tới hơn 24 trang, giải thích vì sao An Nam Cộng sản Đảng lại tán thành lập Đảng Cộng sản sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, vì đã đến thời cơ lập một đảng cộng sản ở Việt Nam, trong khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lại chưa đủ tư cách để chuyển thành một đảng cộng sản; trong Thanh niên có nhiều phần tử phức tạp.

Thông báo không định ra được đường lối chiến lược, sách lược của Đảng, mà chỉ nhằm vào phê phán Đông Dương Cộng sản Đảng; nhận định vì chủ trương, quan điểm không giống nhau, nên đã để xảy ra tình trạng những người cộng sản phân biệt nhau. Thông báo phê phán việc lập ngay Đông Dương Cộng sản Đảng là vội vã, vì đáng lẽ ra phải lập chi bộ cộng sản trước, rồi mới lập Đảng(30); hoạt động của Đông Dương Cộng sản Đảng có nhiều chỗ sai lầm; còn tổ chức Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Bắc Kỳ thì chia làm ba phái: phái theo Đông Dương Cộng sản Đảng, phái ngồi chờ, phái trung lập. Tại Trung Kỳ thì chia ra không biết mấy nhóm; nhiều người chán nản cách mạng, lại gặp lúc địch khủng bố, đồng chí bị bắt và chạy tứ tán, lực lượng cạn dần. Tại Nam Kỳ, nội bộ không phát sinh vấn đề gì, nhưng đồng chí phần nhiều cũng chán nản và những đồng chí phụ trách bị bắt gần hết(31).

An Nam Cộng sản Đảng đã làm được một số việc, nhất là việc phát triển các chi bộ cộng sản và phát triển đảng viên ở Nam Kỳ. Tuy nhiên, những nhận định, đánh giá của An Nam Cộng sản Đảng đối với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Đông Dương Cộng sản Đảng có phần ngộ nhận, không đúng với bản chất của hai tổ chức cách mạng – cộng sản này.

Đông Dương Cộng sản Liên đoàn:

     Như đã phân tích một phần ở trên về Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Ngày 14-7-1925, một số nhà hoạt động chính trị và trí thức như Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, Trần Mộng Bạch, Trần Phú, Hà Huy Tập, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai,… ở Trung Kỳ nhóm họp lập ra một tổ chức lấy tên là “Hội Phục Việt” (Hội còn có tên là Đảng Phục Việt). Hội hoạt động bí mật, tuyên truyền tinh thần yêu nước trong giới trí thức. Hội chủ trương “đánh đổ đế quốc, xây dựng một xã hội bình đẳng, bác ái…”. Lực lượng chủ yếu của Hội là các trí thức, thanh niên tiểu tư sản yêu nước. Địa bàn hoạt động chủ yếu của Hội là ở Trung Kỳ. Hoạt động được một thời gian, Hội Phục Việt đổi tên thành “Hội Hưng Nam”. Năm 1926, Hội Hưng Nam lại đổi tên thành “Việt Nam Cách mạng Đảng”. Tháng 7-1927, vì ảnh hưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội đổi tên thành “Việt Nam Cách mạng đồng chí Hội”. Ngày 14-7-1928, lại đổi tên là “Tân Việt Cách mệnh Đảng” (còn gọi là Đảng Tân Việt, gọi tắt là Tân Việt). Lúc này, trong Đảng Tân Việt nảy sinh hai xu hướng chính trị: một số đảng viên chịu ảnh hưởng tư tưởng yêu nước và cách mạng của Nguyễn Ái Quốc nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” của Người; một số lại muốn theo xu hướng quốc gia cải lương. Đến tháng 9-1929, một số đảng viên chịu ảnh hưởng tư tưởng cộng sản tuyên bố thành lập “Đông Dương Cộng sản Liên đoàn”, hình thành một số chỉ bộ ở Trung Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ. Ngày 1-1-1930, tại một địa điểm ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức họp Đại hội thành lập. Đó là quá trình ra đời của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

     Như vậy, từ năm 1925 đến đầu năm 1930, trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Việt Nam có các tổ chức yêu nước – cách mạng – cộng sản: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; Nhóm (Chi bộ) cộng sản đầu tiên ở nước ngoài (sinh viên Việt Nam học tại Trường Đại học Phương Đông, Liên Xô); Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở trong nước (Chi bộ 5D, Hàm Long, Hà Nội); Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng; Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Như vậy, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn là những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, còn có một số đảng phái chính trị khác, trong đó, phải kể đến Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học làm Đảng trưởng. Lịch sử tất yếu dẫn đến việc hợp nhất các tổ chức yêu nước – cách mạng – cộng sản lại làm một. Đó là sự tập hợp các tổ chức cộng sản lại để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Còn Việt Nam Quốc dân Đảng, do không có đường lối chính trị rõ ràng; lực lượng cách mạng lại không lấy công nông làm nòng cốt, nên không tập hợp được đông đảo quần chúng ủng hộ, do đó, đã bị thất bại trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào đầu năm 1930.

Đảng Dân chủ Việt Nam:

Đảng Dân chủ Việt Nam (Việt Nam Tân Dân chủ Đảng) là “chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam”, hoạt động từ năm 1944, tên ban đầu là “Việt Nam Dân chủ Đảng hay Việt Nam Tân dân chủ Đảng”. Ban lãnh đạo đầu tiên của Đảng Dân chủ Việt Nam là ông Dương Đức Hiền, Chủ tịch và ông Nghiêm Xuân Yêm là Tổng Thư ký. Tiền thân của Đảng Dân chủ Việt Nam là Tổng hội sinh viên Đại học Tổng hợp Hà nội năm 1940, sau các nhóm sinh viên yêu nước hợp nhất thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam. Đảng tham gia Việt Minh, Dương Đức Hiền, Tổng thư ký của Đảng đầu tiên, tham gia Tổng bộ Việt Minh, sau đó lại tách ra và tham gia Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Trong Quốc hội khóa I năm 1946, Đảng giành được 46 ghế, do Đỗ Đức Dục và  Tôn Quang Phiệt lãnh đạo. Đảng có 2 ghế trong Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận) và đến tháng 3-1946, Đảng có ghế trong Chính phủ lâm thời là Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận, Vũ Trọng Khánh, Vũ Đình Hòe.  Ở Nam Bộ, ban đầu các đảng viên hoạt động như là nhóm Tân Dân chủ (Huỳnh Văn Tiểng lãnh đạo, năm 1945). Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12-1946, đảng lại gia nhập Việt Minh.

Từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng hoạt động tại miền Bắc Việt Nam (Đảng bộ tại miền Nam về hình thức tách ra năm 1961 vẫn lấy ngày thành lập năm 1944, thành lập Đảng Dân chủ tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tới 1975), và từ năm 1975 đến năm 1988, trên toàn Việt Nam. Kể từ Quốc hội khóa II, Đảng là ứng cử viên tranh cử trong khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Gần đây, trên mạng lại tung lên những bài viết của những phần tử quá khích, cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn độc đảng, cho nên đã phải ra lệnh giải tán Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Đây là một sự vu cáo trắng trợn. Sự thật thì không phải như vậy. Hãy xem lại những văn kiện còn lưu giữ lại sẽ cho thấy rõ sự thật này: Ngày 30-6-1987, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 43, ngày thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát biểu ghi nhận những thành tích  trong những năm qua của Đảng Dân chủ và động viên các đảng viên của Đảng Dân chủ góp phần tích cực hơn nữa vào hoạt động của Quốc hội và Mặt trận. Tuy nhiên, hoạt động của Đảng Dân chủ ngày càng khó khăn do tuổi bình quân của đảng viên đã 70. Lớp trẻ lúc ấy, vận động mãi, họ cũng không gia nhập Đảng Dân chủ Việt Nam, mà xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước tình cảnh như vậy, Ban lãnh đạo Đảng Dân chủ Việt Nam đã báo cáo với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và qua Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tình cảnh của Đảng Dân chủ. Ngày 10-10-1987, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiến nghị với Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam một số vấn đề về Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Kiến nghị nêu rõ: “Trong suốt quá trình cách mạng lâu dài, gian khổ, hai Đảng vẫn đi theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và có nhiều cống hiến. Trong khoảng 10 năm nay, trong cán bộ, đảng viên của hai đảng, kể cả những người lãnh đạo chủ chốt xuất hiện ngày càng rõ những tâm trạng khủng hoảng về sự tồn tại của đảng mình, địa bàn hoạt động không được mở rộng, đối tượng vận động không rõ. Ở miền Nam, chỉ còn lác đác vài đảng viên đã cao tuổi. Ở miền Bắc, Đảng Dân chủ chỉ có cơ sở ở 5 thành phố, thị xã. Đảng Xã hội có cơ sở ở 3 thành phố. Đối tượng vận động của Đảng Dân chủ ở miền Bắc thực tế đã hết từ những năm 1960 sau cải tạo công thương nghiệp tư bản tư nhân. Cả hai đảng không kết nạp được đảng viên mới, do nhiều người không muốn vào. Lực lượng đảng viên ngày càng già yếu, giảm nhanh, chưa tìm được người kế tục lãnh đạo. Tổng số đảng viên của Đảng Dân chủ còn 180 người. Đảng Xã hội còn 90 người; người ít tuổi nhất là 60, cao nhất là 83. Đảng Xã hội đã nhất trí, còn Đảng Dân chủ ý kiến nội bộ chưa thật nhất trí, chưa tự đề nghị kết thúc, muốn Đảng Cộng sản Việt Nam cho ý kiến. Về lý do chính trị, hai đảng tiếp tục tồn tại (dù chỉ với danh nghĩa tiêu biểu) là cần thiết, nhưng khả năng “hồi sinh” của nó không đáp ứng nổi. Vì vậy, cần có giải pháp thích hợp; hai đảng không thể tồn tại lâu dài, nhưng cũng không nên kết thúc ngay mà phải trải qua một thời kỳ quá độ”(32).

Mặc dù được Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam động viên, nhưng càng về cuối, số đảng viên của Đảng Dân chủ càng vơi dần, chỉ còn khoảng 50 người, tuổi đời của đảng viên rất cao, mà không kết nạp thêm được một đảng viên mới, cho nên phải kết thúc hoạt động của mình.

Trong ba ngày 28,29,30 tháng 10-1988, Đảng Dân chủ Việt Nam đã họp phiên cuối cùng để kiểm điểm 44 năm hoạt động và thống nhất nhận định Đảng không còn đủ điều kiện hoạt động thích ứng với yêu cầu. Vì vậy, Đảng đã quyết định kết thúc hoạt động của mình.

Đảng Dân chủ thành lập ngày 30-6-1944 và kết thúc hoạt động vào ngày 20-10-1988. Kể từ khi thành lập đến khi giải tán, Đảng Dân chủ hoạt động được 44 năm.

Đảng Xã hội Việt Nam:

Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập ngày 22-7-1946, ra đời sau Đảng Dân chủ Việt Nam hai năm. Tên ban đầu là “Việt Nam xã hội đảng”, dưới sự vận động Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh. Mục đích hoạt động của Đảng là “tập hợp, đoàn kết mọi trí thức yêu nước và dân chủ”.

Người lãnh đạo ban đầu của Đảng Xã hội Việt Nam là Phan Tư Nghĩa, Nguyển Xiển. Đảng có 24 ghế trong Quốc hội khóa I Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tập hợp trong khối cánh tả. Một số thành viên như Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Phúc Thông tham gia Chính phủ Việt Nam.

Ngay sau thành lập, Đảng Xã hội Việt Nam đã gia nhập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Trong Đảng Xã hội có một số đảng viên đồng thời là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cùng với Đảng Cộng sản  Việt Nam và Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam đã tham gia trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ khóa II Quốc hội, các ứng cử viên tham gia ứng cử trong khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội đại biểu Đảng Xã hội Việt Nam họp từ ngày 21 đến ngày 22-7-1988, thảo luận và đi tới thống nhất kết thúc hoạt động của Đảng. Ngày 15-10-1988, Đảng Xã hội Việt Nam tổ chức Lễ kết thúc hoạt động. Lễ mít tinh kết thúc hoạt động của Đảng Xã hội Việt Nam được tổ chức trọng thể tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh tới dự và phát biểu ý kiến, đánh giá những cống hiến to lớn của Đảng Xã hội Việt Nam, đã được Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đánh giá rất cao.

Hiện nay, số lượng đảng viên của Đảng còn lại rất hạn chế, tuổi cao, bởi vậy, Đảng Xã hội Việt Nam kết thúc sau 42 năm hoạt động. Đảng Xã hội Việt Nam đã hoàn thành lịch sử của mình.

Sự thật là như vậy, nhưng có một số phần tử quá khích trắng trợn vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam “ép” phải giải tán Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Trên nhiều sự kiện khác, các phần tử chống đối, bất mãn, lật lọng, cũng vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người cả đời không hề đọc “Các Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập”, “V.I.Lênin Toàn tập”, “Hồ Chí Minh Toàn tập”, “Văn kiện Đảng Toàn tập”, nhưng cũng gào to, thét lớn trên các trang mạng xã hội, đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường chính trị Việt Nam, cho rằng, nó đã lỗi thời, không còn sức sống. Thật là kỳ quặc? Ở đây, nó bộc lộ một vấn đề đấu tranh giai cấp đang vẫn còn diễn ra quyết liệt trong tình hình hiện nay, đúng như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã từng tiên đoán là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra không kém phần quyết liệt như thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ. Muốn vượt lên và giữ vững chế độ, đòi hỏi người lãnh đạo của thời kỳ này là phải quan điểm rõ ràng, có bản lĩnh, trí tuệ, đoàn kết được đông đảo lực lượng nhân dân và đảng viên, tạo thành sức mạnh của Đảng. Nếu người lãnh đạo hiện nay không có những tố chất trên, thì sự sụp đổ sẽ rất khó tránh khỏi.

3.Về chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết, phải nói rằng, đây là một khoa học của các quan điểm triết học, kinh tế, chính trị – xã hội; học thuyết về nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy luật phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy con người, về những con đường cách mạng lật đổ chế độ bóc lột và xây dựng chủ nghĩa cộng sản, thế giới quan của giai cấp công nhân và đội tiền phong là các đảng cộng sản và đảng công nhân trên toàn thế giới. Tất cả đều đi tới giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi những xiềng xích của mọi áp bức và bất công. Việc xảy ra những thất bại như sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 là lỗi của những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó, chủ yếu là lỗi về đường lối, về phương pháp và nhân sự trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô lúc ấy, chứ không thể đổ lỗi cho chủ nghĩa Mác – Lênin.

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Những nhu cầu của sự phát triển xã hội biểu lộ những tệ nạn căn bản của toàn bộ hệ thống bất công, áp bức, sự thức tỉnh của những người lao động vùng lên đấu tranh chính trị, những phát minh vĩ đại trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, trình độ nghiên cứu lịch sử và xã hội, tất cả những điều đó đã đặt ra trước tư tưởng xã hội nhiệm vụ xây dựng một lý luận mới, khoa học. C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên đã giải quyết nhiệm vụ lịch sử này. V.I.Lênin đã bảo vệ chủ nghĩa Mác chống lại sự tấn công của kẻ thủ, đã tổng kết về mặt lý luận các thành tựu mới nhất của khoa học và kinh nghiệm mới của các cuộc đấu tranh giai cấp, đã nâng lý luận mácxít lên một trình độ phát triển mới về chất. Lịch sử gọi đó là chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy sự hình thành chủ nghĩa Mác – Lênin là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin, ngoài vai trò sáng tạo còn là sự tiếp tục và phát triển những thành tựu của tư tưởng xã hội trong lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Có thể nói đây là một lý luận khoa học gồm ba bộ phận cấu thành chính: (a) Triết học gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; (b) Kinh tế chính trị học; (c) Chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã làm phong phú các khoa học xã hội khác trong môi trường chính trị mới. Với tư cách là học thuyết cách mạng và khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin đối lập với chủ nghĩa cải lương và không bao giờ từ bỏ cương lĩnh cách mạng của mình. Chủ nghĩa Mác – Lênin trưởng thành và phát triển trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội là thứ chủ nghĩa đã che đậy sự xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin bằng việc công nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trên lời nói, bằng những lời kêu gọi “phát triển” chủ nghĩa Mác – Lênin bằng việc vứt bỏ những nguyên lý chủ yếu của chủ nghĩa Mác – Lênin, viện cớ là đã “cũ kỹ”, đã “lỗi thời”.

Trong điều kiện hiện nay, ở các nước xã hội chủ nghĩa, việc tiếp tục phát triển một cách sáng tạo lý luận kinh tế học Mác – Lênin, cũng như nghiên cứu những vấn đề chính trị – xã hội và lý luận tư tưởng trong việc quản lý xã hội một cách khoa học, vấn đề lý luận trong công tác tư tưởng, có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc áp dụng lý luận Mác – Lênin vào những điều kiện muôn màu muôn vẻ và thay đổi không ngừng trong các nước khác nhau trên thế giới đã làm cho lý luận Mác – Lênin ngày càng phát triển. Nhiều trường đại học ở các nước tư bản phát triển vẫn có môn học chủ nghĩa Mác. Vì vậy, các luận điểm của chủ nghĩa Mác vẫn mang ý nghĩa phổ biến. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin không thể đem áp dụng một cách máy móc ở bất cứ nước nào, mà tùy theo từng nước đã có đủ điều kiện, thì hãy áp dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước mình.

Là thế giới quan khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin đem lại cho loài người phương hướng đúng đắn trong cuộc sống, giúp cho con người xác định được chỗ đứng vững chắc của mình trên thế giới, niềm tin về mặt tư tưởng, kiên định về mặt chính trị và tính nhân đạo cao cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tư tưởng của các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là tư tưởng để thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, ở vấn đề dân tộc gắn với giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, dân tộc gắn với thời đại, ở cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, ở đạo đức, phong cách, tác phong của cán bộ, đảng viên.

Sáng tạo tư tưởng lý luận Hồ Chí Minh thể hiện ở việc xác định cách mạng là đổi mới; thể hiện sự lựa chọn con đường cứu nước; ở việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; ở việc Người rất kiên quyết và sớm đưa chủ nghĩa xã hội vào các nước thuộc địa và phụ thuộc; ở việc tạo dựng lên một nước Việt Nam mới, dân chủ, cộng hòa; ở việc xây dựng khối đại đoàn toàn dân, đoàn kết quốc tế, ở một nền hòa bình và dân chủ; ở việc gắn kết giữa nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; ở việc nhìn nhận vấn đề thời đại và thời cuộc; ở việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và vấn đề xây dựng Đảng.

Mọi luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều là phản khoa học, đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

——————

1 Hai đại biểu khác của Bắc Kỳ là Ngô Gia Tự và Nguyễn Tuân.

2 Xem “Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 374.

3 Xem “Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 175.

4.Tên gọi này là do nói ra, chứ trong các văn kiện chỉ ghi có hai tên: “Đảng Cộng sản Đông Dương” và “Đông Dương Cộng sản Đảng”.

5.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 1, tr. 177.

6.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 178.

7.“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương” (Đông Dương Cộng sản Đảng) giải thích nghĩa diệt trừ chế độ phong kiến là vua chúa, quan lại; đại địa chủ có ấp vua ban; chỉ chế độ tập quán phong hóa của xã hội vua chúa.

8.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 178.

9.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 179.

10.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 181.

Đây chính là quan điểm của V.I.Lênin nêu trong tác phẩm: “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Nhận định này có phần “tả” khuynh.

11.”Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr.214.

12.Những trí thức thảo ra bản Tuyên ngôn này là Trịnh Đình Cửu, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc,… Họ đều là những người có học vấn cao, thông thạo nhiều ngoại ngữ.

13.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 188.

Lúc này, trong xã hội, các thế lực thù địch tung ra luận điểm chủ nghĩa cộng sản là “cộng thê”, đem đàn bà dùng chung. Tuyên ngôn kịch liệt phê phán quan điểm phản động này.

14.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 188.

15.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 188.

16.Chủ tịch Hồ Chí Minh giải nghĩa một cách nôm na: “quá” là “qua”, “độ” là “đò”, “quá độ là qua đò”. Bên này sông là chủ nghĩa tư bản, bên kia sông là chủ nghĩa xã hội. Muốn qua sông thì phải qua đò,”quá độ”.

17.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 190.

18.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 210.

Sau đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, phát triển thành cách mạng thổ đia và phản đế, cách mạng dân tộc dân chủ, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

19.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 210.

20.Trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua vào đầu năm 1930, cũng đề cập đến lập chính phủ công nông bình.

21.Văn kiện Đảng Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 202.

22.Xem “Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 230. Sự phê phán này là không đúng.

23.”Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 369.

24.Xem “Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 359.

25.Trong thành phần vào Đảng, Điều lệ không nói gì đến trí thức.

26.Có thể là 1/50 thì đúng hơn.

27.Có thể là 1/100 thì đúng hơn.

28.”Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 367.

29.Thông báo của An Nam Cộng sản Đảng không đề ngày, tháng, năm, nhưng qua nghiên cứu, tôi (Đức Vượng) cho là ra vào giữa hoặc cuối tháng 11-1929, sau khi An Nam Cộng sản Đảng được thành lập, vì trong Thông báo cho câu: “Xưng chữ “Đông Dương” (ý muốn nói đặt tên Đảng – ĐV) thì không… vì trùng tên với Đảng Cộng sản Đông Dương (Đông Dương Cộng sản Đảng – Đ.V), cho nên định tên là Đảng Cộng sản An Nam (An Nam Cộng sản Đảng) thì sát hơn” (Xem “Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 341).

30.An Nam Cộng sản Đảng chưa biết là trước khi lập ra Đông Dương Cộng sản Đảng, đã có Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở trong nước, thành lập vào tháng 3-1929, nên mới cho rằng, việc lập Đông Dương Cộng sản Đảng là vội vã..

31.Xem “Văn kiện Đảng Toàn tập”, sđd, tập 1, tr. 338,339.

32.Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2004, tập 3, tr.383,384.